Phép đoán số Hà Lạc dùng để giải đoán vận mệnh đời người, vốn là một ứng dụng quan trọng của Dịch học được lưu hành rộng rãi trong dân gian xưa. Đây là một phương pháp xác suất cổ được nghiên cứu rất công phu dựa trên lý thuyết Tượng số của Dịch học. Cổ nhân tin rằng, con người cũng như vạn vật đều phải tuân theo những quy luật biến dịch chung của Vũ trụ, giống như các con số. Vì vậy, có thể tìm hiểu vận mệnh đời người thông qua Tượng nhị phân của các con số. Còn các con số tuy sinh ra vô vàn, nhưng về cơ bản chỉ có 10 số đếm mà thôi (gồm 5 số sinh và 5 số thành theo Hà Đồ, hoặc biến chuyển theo quy luật của Lạc Thư). Từ đó hình thành nên Lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái, rồi lục thập tứ quái (64 quẻ trùng quái). Cuộc đời mỗi con người sẽ gắn với hai quẻ trùng quái trong số đó, gồm quẻ Tiên Thiên (ứng với nửa đầu đời người), và quẻ Hậu Thiên (ứng với nửa sau đời người).

1. Quẻ Tiên Thiên (Sơn Hỏa Bí):

Quẻ Tiên Thiên (còn gọi là quẻ Thể, quẻ gốc hay quẻ bản mệnh) là quẻ đại diện cho nửa đầu đời người (từ 1 đến 45 tuổi). Quẻ này đại diện cho thể chất và khí chất ban đầu của con người, kể cả tình trạng sức khỏe lẫn sự giáo dục của gia đình và nhà trường mà người đó đã được chuẩn bị để bước vào đời.

  • Lời quẻ:
    • Thoán từ: 賁: 亨, 小利, 有攸往
    • Phiên âm: Bí: hanh, tiểu lợi, hữu du vãng.
    • Bề ngoài mọi sự dễ dàng nhưng còn chút khó khăn. Công danh sự nghiệp khởi đầu thuận lợi nhưng phải liên tục cố gắng không sẽ sa sút. Thời vận của những người có bề ngoài hào nhoáng. Cần tránh việc kiện tụng. Thi cử đạt. Tình yêu hào nhoáng nhưng hơi trắc trở. Gia đình bình yên.
  • Ý nghĩa của quẻ trong các mặt của đời sống:
    • Tổng quan: Bất kỳ việc gì bạn làm có liên quan đến nghệ thuật hay mỹ thuật đều thuận lợi. Đối với những việc khác, việc nhỏ thì cát tường, nhưng ở các việc lớn, lực bất tòng tâm (khả năng không phù hợp với ý muôn). Có khả năng bạn có thể bị lừa, mắc bẫy hoặc bị vu khống.
    • Sự việc: khó xong vì chưa đồng lòng.
    • Kinh doanh: Thành công và lợi nhuận.
    • Nhậm chức: chưa hoàn toàn như ý.
    • Kiện tụng và tranh chấp: Bất lợi, nhưng hòa giải thì khả thi.
    • Tình yêu: Có thể thành công, nhưng sẽ thất vọng với kết quả khi kỳ vọng đặt ra quá cao.
    • Chờ người: Người này sẽ đến, nhưng sẽ gây thất vọng.
    • Vật bị mất: Đã bị để sai chỗ vào cái gì đó. Hãy tìm ở hướng nam hoặc hướng đông bắc.
    • Ước muốn: ước muôn khiêm tôn sẽ trở thành hiện thực, nhưng những hy vọng thái quá hay ngông cuồng thì không.
    • Thi cử: Điểm cao.
    • Việc làm: Có thể tìm được, nhưng nếu điều kiện đề ra quá cao, kết quả sẽ thất bại.
    • Người ra đi: đi không mục đích, sau lại trở về.
    • Tìm người: Chẳng bao lâu sẽ trở về hay sẽ biết được những nơi lui tới của người này. Họ có thể đang trốn hoặc đang ở trong nhà bạn hay nhà người thân nằm phía hướng nam hoặc hướng đông bắc.
    • Gia đạo: Bề ngoài dễ khiến người khác bị lầm – bên trong thì nghèo đói và đau khổ.
    • Du lịch: Đi gần thì tốt, Đi xa thì không nên.
    • Sự nghiệp: ban đầu có, đề phòng sự sa sút về sau và lúc hữu danh vô thực.
    • Đợi người: họ sắp tới.
    • Đi xa: có tốn kém nhưng đạt mục đích.
    • Thế vận: hiện trong tình trạng có khó khăn, không toại ý. Muốn thoát ra được phải hành động đúng theo thân phận hiện tại để vượt qua, sau đó qua được thi tiến lên.
    • Vay vốn: Khoản vay nhỏ thì có thể, còn khoản vay lớn thì không.
    • Tuổi thọ: Thể chất yếu đuối. Nếu không điều độ và làm chủ được bản thân, có thể sẽ bị đoản thọ.
    • Hôn nhân: Phía bên kia có thể đang giấu giếm điều gì đó. Phải điều tra và quyết định sau khi mọi việc đã sáng tỏ hay đã được công khai.
    • Bệnh tật: Nghiêm trọng hơn nhiều so với bề ngoài. Hãy biết quan tâm chăm sóc sức khỏe, bằng không có thể gặp nguy hiểm.
    • Tài lộc: có, nhưng chưa đến ngay.
    • Mất của: của khó tìm.
    • Pháp lý: nên hòa giải thì tốt, nếu cố tranh chấp sẽ thất bại.
    • Hy vọng: có hy vọng, nhưng còn xa, hiện không nên hy vọng nhiều.
    • Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyên môn hay chỗ làm: Cát tường.
    • Nghề nghiệp: giữ nguyên việc cũ, nghề cũ thì tốt.
    • Con cái: Có vẻ con cái đang yếu đuối và bệnh hoạn. Thai nghén con gái.
  • Các đại vận (tương ứng với các hào):
    • Lưu ý: Mỗi quẻ sẽ có 6 hào, mỗi hào mang ý nghĩa riêng, tuy nhiên tùy thuộc vào mỗi người có Hợp Cách hay không (tức là mệnh của mỗi người có phù hợp với quẻ này hay không, mà sự tốt xấu ban đầu của lời hào có thể thay đổi.
    • Lưu ý 2: Lời hào thường viết chung về các vấn đề tốt xấu của đời người, không phân biệt giai đoạn tuổi tác, do đó có một số trường hợp hào ứng với lứa tuổi thiếu niên hoặc lão niên nhưng vẫn ghi là Thăng quan tiến chức chẳng hạn, thì cần hiểu đây là nội dung tương đồng, tương đương với Thi cử đỗ đạt nếu ứng vào tuổi thiếu niên.
    • Hào Thượng Cửu: Ứng với quãng đời từ 1 tuổi đến 9 tuổi
      • Thoán từ: 上九: 白賁, 无咎.
      • Phiên âm: Bạch bí, vô cữu.
      • Lời hào: Hào tốt, như người trở về cái chất phác ban đầu, không cần trang sức. Phòng có tang bên họ ngoại. Quan chức được cảm tình, dễ thăng tiến. Sĩ tử được người tin dễ thành danh. Người thường kinh doanh đắc lợi.
    • Hào Sơ Cửu: Ứng với quãng đời từ 10 tuổi đến 18 tuổi
      • Thoán từ: 初九: 賁其趾, 舍車而徒.
      • Phiên âm: Bí kì chỉ, xả xa nhi đồ.
      • Lời hào: Hào bình, kẻ hay chuộng hình thức, đứng núi nọ trông núi kia, bỏ cũ tìm mới, long đong chạy vạy, xử lý không đúng ngôi, đúng vị.
      • Trường hợp này là mệnh không hợp cách. nên chủ mệnh là: Người dựa thế cấp trên, bôn ba chạy vạy. Người thường có tiếng không miếng, thất tài lộc, chuộng hình thức.
      • Đánh giá: Hào hung
    • Hào Lục Nhị: Ứng với quãng đời từ 19 tuổi đến 24 tuổi
      • Thoán từ: 六二: 賁其須.
      • Phiên âm: Bí kì tu.
      • Lời hào: Hào tốt, quan chức dễ thăng tiến. Kẻ sỹ có văn tài như người có bộ râu được trang sức. Người kinh doanh gặp tài vận, nhiều phúc lợi.
      • Trường hợp này là mệnh không hợp cách. nên chủ mệnh là: Người có học vấn cao, có phúc lộc.
      • Đánh giá: Hào cát
    • Hào Cửu Tam: Ứng với quãng đời từ 25 tuổi đến 33 tuổi
      • Thoán từ: 九三: 賁如濡如, 永貞吉.
      • Phiên âm: Bí như, nhu như,vĩnh trinh cát.
      • Lời hào: Hào tốt người biết tự trau dồi như biết tự trang sức vậy. Người có số an nhàn. Quan chức dễ thăng tiến. Sỹ tử gặp người tiến cử được sử dụng. Người thường được giúp đỡ, kinh doanh phát đạt.
      • Trường hợp này là mệnh không hợp cách. nên chủ mệnh là: Người có tài đức, sống lâu.
      • Đánh giá: Hào cát
    • Hào Lục Tứ: Ứng với quãng đời từ 34 tuổi đến 39 tuổi
      • Thoán từ: 六四: 賁如皤如, 白馬翰如, 匪寇, 婚媾.
      • Phiên âm: Bí như, bà (có người đọc là ba) như, bạch mã hàn như, phỉ khấu, hôn cấu.
      • Lời hào: Hào xấu lúc đầu, tốt về sau, như người trang sức không đúng, hành vi không hợp có thể gây hiểu lầm. Phòng có tang phục. Mệnh hợp là Mệnh không hợp thì gian nan, khó nhọc lúc trẻ, về già khá hơn kinh doanh về sau mới có lợi.
      • Trường hợp này là mệnh không hợp cách. nên chủ mệnh là: Kẻ hà tiện, túng thiếu, kém tài lộc.
      • Đánh giá: Hào hung
    • Hào Lục Ngũ: Ứng với quãng đời từ 40 tuổi đến 45 tuổi
      • Thoán từ: 六五: 賁于丘園, 束帛戔戔, 吝, 終吉.
      • Phiên âm: bí vu khâu viên, thúc bạch tiên tiên, lận, chung cát.
      • Lời hào: Hào tốt, chỉ người hà tiện có thể gây hiểu lầm, nhưng sau tốt.
  • Đọc thêm nội dung quẻ này trong sách Kinh Dịch – Đạo của người quân tử:

  • Lời quẻ:
    • Dẫn: Đám đông, hợp lại với nhau thì phải có trật tự, uy nghi, có văn vẻ, cho nên tiếp theo quẻ Phệ Hạp là quẻ Búi là văn vẻ, rực rỡ, sáng sủa trang sức.
    • Thoán từ: 賁: 亨, 小利, 有攸往
    • Phiên âm: Bí: hanh, tiểu lợi, hữu du vãng.
    • Dịch nôm: Trang sức văn vẻ thì hanh thông; làm việc gì mà chỉ nhờ ở trang sức thì lợi bé nhỏ mà thôi.
    • Giảng nghĩa: Trên là núi, dưới là lửa; lửa chiếu sáng mọi vật ở trên núi, như vậy làm cho núi đẹp lên, trang sức cho núi. Còn một cách giảng nữa: trong nội quái (vốn là quẻ đơn Càn) hào 2, âm, vốn ở quẻ đơn Khôn, thay vào hào 2 dương của quẻ đơn Càn, thành quẻ đơn Ly, như vậy là tô điểm cho quẻ đơn Càn. Trong ngoại quái (vốn là quẻ đơn Khôn) hào trên cùng vốn ở quẻ đơn Càn, lại thay hào trên cùng của quẻ đơn khôn, thành quẻ đơn Cấn. Nói cách khác, vắn tắt mà không sai mấy thì nội quái có một hào âm trang sức cho hai hào dương , còn ngoại quái có một hào dương trang sức cho hai hào âm, vì vậy mà gọi là quẻ Bí: trang sức. Vật gì cũng vậy: có chất, tinh thần; mà lại thêm văn, hình thức, thì tốt (hanh thông), nhưng nếu chỉ nhờ ở trang sức mà thành công thì lợi ít thôi. Thoán truyện bàn rộng thêm: âm nhu và dương cương giao với nhau, thay đổi lẫn nhau (tức hào 2 và hào trên cùng như trên mới giảng). Ðó là cái văn vẻ tự nhiên (thiên văn) của trời; còn cái văn vẻ nhân tạo (nhân văn) thì nên hạn chế (quẻ Cấn ở trên có nghĩa là ngăn, hạn chế), vì tuy nó có công giáo hóa thiên hạ, nhưng nhiều quá thì văn thắng chất, xấu. Đại tượng truyện còn khuyên: Việc chính trị nhỏ thì dùng trang sức được; còn việc quan trọng như phán đoán hình ngục thì đừng nên quả quyết, tô điểm thêm.
    • Tổng luận: Đại ý quẻ Bí này là có văn vẻ, có trang sức mới là văn minh, nhưng vẫn nên trọng chất hơn văn, lấy chất làm thể, lấy văn làm dụng, và không nên xa hoa, màu mè quá.
  • Lời hào:
    • Hào 1:
      • Thoán từ: 初九: 賁其趾, 舍車而徒.
      • Phiên âm: Bí kì chỉ, xả xa nhi đồ.
      • Dịch nôm: Hào 1, dương, Trang sức, trau giồi ngón chân (địa vị thấp) của mình; bỏ cách sung sướng là ngồi xe mà nên đi bộ (chịu khó nhọc).
      • Giảng nghĩa: Hào này dương cương, ở cuối cùng nội quái Ly, tức như người có đức sáng suốt mà ở địa vị thấp nhất. Chỉ nên trau giồi phẩm hạnh của mình trong địa vị đó (ví như ngón chân, bộ phận thấp nhất trong thân thể), mà an bần, chịu đi bộ chứ đừng ngồi xe.
    • Hào 2:
      • Thoán từ: 六二: 賁其須.
      • Phiên âm: Bí kì tu.
      • Dịch nôm: Hào 2, âm: trang sức bộ râu.
      • Giảng nghĩa: Chữ tu ở đây nghĩa là râu, cũng như chữ tu : 鬚 Hào này làm chủ nội quái ly, có công dụng trang sức cho quẻ Ly, đặc biết là cho hào 3 dương ở trên nó, cho nên ví nó như bộ râu trang sức cho cái cằm (hào 3). Nó phải phụ vào hào 3 mà hành động. Hào 3 có tốt thì tác động của hào 2 mới tốt, cũng như phải có cài cằm đẹp thì để râu mới thêm đẹp, nếu cằm xấu thì để râu càng thêm khó coi. Nói rộng ra thì bản chất phải tốt, xứng với sự trang sức; chất và văn phải xứng nhau.
    • Hào 3:
      • Thoán từ: 九三: 賁如濡如, 永貞吉.
      • Phiên âm: Bí như, nhu như,vĩnh trinh cát.
      • Dịch nôm: Hào 3, dương: Trang sức mà đằm thắm, hễ giữ vững chính đạo thì tốt.
      • Giảng nghĩa: Hào này dương cương, đắc chính, lại ở trên cùng nội quái ly, có cái nghĩa rất văn minh; tượng trưng người có tài trang sức cho hai hào âm ở trên và dưới nó, tính rất đằm thắm với hai hào âm (có người dịch nhu như là trang sức một cách nhuần nhã, thấm nhuần). Vì vậy mà nên coi chừng, đừng say mê vì tư tình, mà phải bền giữ chính đạo thì mới tốt, không bị người xâm lấn (mạc chi lăng dã: Tiểu tượng truyện).
    • Hào 4:
      • Thoán từ: 六四: 賁如皤如, 白馬翰如, 匪寇, 婚媾.
      • Phiên âm: Bí như, bà (có người đọc là ba) như, bạch mã hàn như, phỉ khấu, hôn cấu.
      • Dịch nôm: hào 4 âm: Muốn trang sức cho nhau (nhưng không được) nên chỉ thấy trắng toát. Hào 4 như cưỡi ngựa trắng mà chạy như bay (đuổi kịp hào 1), rốt cuộc cưới nhau được vì kẻ gián cách hai bên (hào 3) không phải kẻ cướp (người xấu).
      • Giảng nghĩa: hào 4 âm nhu, ứng với hào 1 dương cương, cả hai đều đắc chính ,tình ý hợp nhau, muốn trang sức cho nhau, nhưng bị hào 3 ở giữa ngăn cách, nên không trang sức cho nhau được, chỉ thấy trắng toát (trắng nghĩa là không có màu, không trang sức). Mặc dầu bị 3 cản trở, 4 vẫn cố đuổi theo 1, rốt cuộc 3 vốn cương chính, không phải là xấu, không muốn làm hại 4 và 1, cặp này kết hôn với nhau được.
    • Hào 5:
      • Thoán từ: 六五: 賁于丘園, 束帛戔戔, 吝, 終吉.
      • Phiên âm: bí vu khâu viên, thúc bạch tiên tiên, lận, chung cát.
      • Dịch nôm: Hào 5, âm: Trang sức ở gò vườn, mà dùng tấm lụa nhỏ, mỏng, tuy là bủn xỉn, đáng chê cười đấy, nhưng rốt cuộc được tốt lành.
      • Giảng nghĩa: Hào 5, âm nhu, đắc trung, làm chủ quẻ Bí; vì là âm nhu nên có tính quá tằn tiện, lo trang sức cái gì hữu dụng như vườn tược thôi, mà lại chỉ dùng tấm lụa nhỏ, mỏng cho đỡ tốn, cho nên bị cười chê, nhưng như vậy còn hơn là xa hoa, mà biết trọng cái gốc là sự chất phác, cho nên cuối cùng vẫn được tốt lành, có hạnh phúc cho dân (hữu hỉ dã: lời Tiểu tượng truyện.)
    • Hào 6:
      • Thoán từ: 上九: 白賁, 无咎.
      • Phiên âm: Bạch bí, vô cữu.
      • Dịch nôm: Hào trên cùng, dương: lấy sự tố phác, như màu trắng (không màu mè gì cả) làm trang sức, không có lỗi.
      • Giảng nghĩa: Hào này là thời cuối cùng của quẻ Bí, trang sức, màu mè đã cùng cực rồi; mà vật cực tắc phản, người ta lại trở lại sự chất phác, nên không có lỗi gì cả. Trong văn học sử, chúng ta thấy sau những thời duy mĩ quá mức, người ta lại phục cổ, trở lại lối văn bình dị, tự nhiên thời xưa. *
  • ☯︎

    2. Quẻ Hậu Thiên (Hỏa Địa Tấn):

    Quẻ Hậu Thiên (còn gọi là quẻ Dụng, hay quẻ biến) là quẻ đại diện cho nửa sau đời người, kể từ khi bước vào đời để phát huy khả năng, tài trí đóng góp cho gia đình và xã hội, đến công thành danh toại, cho đến già và chết (từ 46 tuổi trở đi).

  • Lời quẻ:
    • Thoán từ: 晉: 康侯用錫馬蕃庶, 晝日三接.
    • Phiên âm: Tấn: Khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp.
    • Quẻ Tấn chỉ thời cuộc đang cực thịnh, mọi việc trôi chảy tiến lên, có nhiều thuận lợi cho việc hoàn thành sự nghiệp. Những người biết dựa vào những chủ trương đẹp lòng người của cấp trên, biết thuận theo cái mới, không chủ quan tự mãn thì rất dễ thành công. Tài vận sung mãn, kinh doanh phát đạt, là thời cơ để kiếm tiền hợp lẽ. Xuất hành tốt, gặp may. Thi cử đạt kết quả như ý. Kiện tụng kéo dài dễ gây rắc rối, nên hòa giải sớm thì tốt. Tình yêu và hôn nhân thuận lợi, đôi bên thông cảm dễ dàng, dễ thành lương duyên, hôn nhân bền chặt.
  • Ý nghĩa của quẻ trong các mặt của đời sống:
    • Tổng quan: To lớn, thịnh đạt, sung túc, vận may. Bạn có thể được trợ giúp bởi ai đó hay bậc trưởng thượng của bạn. Sự phát đạt trong kinh doanh, làm ăn và danh tiếng dần dần nổi trội, mọi việc diễn ra đúng như mong đợi. Cũng thích hợp để cộng tác với người khác. Tuy nhiên, ai đó có thể đang đố kỵ với bạn.
    • Vay vốn: Thành công.
    • Con cái: Thông minh và tài giỏi. Thêm nữa, chúng biết vâng lời và có hiếu. Thai nghén con gái.
    • Người ra đi: chuyến đi tốt.
    • Nhậm chức: có địa vị tốt.
    • Tình yêu: Thành công chắc chắn.
    • Tuổi thọ: Khỏe mạnh và sống lâu.
    • Bệnh tật: Có thể bình phục trong tương lai gần. Các bệnh về dạ dày và ruột, bệnh tiêu chảy.
    • Du lịch: Tốt lành. Sẽ đạt được điểm đến hoặc mục đích của chuyến đi.
    • Hôn nhân: Cát tường. Bạn có thể nhận được sự giúp đỡ của một phụ nữ lớn tuổi hơn.
    • Kiện tụng và tranh chấp: Thắng lợi.
    • Việc làm: Thành công thông qua sự giúp đỡ của người thuộc thế hệ lớn tuổi hơn.
    • Sự nghiệp: phát triển mạnh.
    • Tìm người: ở xa, nhưng chẳng bao lâu sẽ về hoặc sẽ sớm tìm thấy. Hãy tìm ở hướng nam hoặc tây nam.
    • Đi xa: chuyến đi mãn nguyện.
    • Ước muốn: Thành công.
    • Thế vận: cực thịnh, được bề trên (có thể nhà lãnh đạo, bậc cha chú, bề trên…) hỗ trợ. Mọi việc như ý, danh vọng thăng tiến. Song không chủ quan sẽ phạm sai lầm.
    • Hy vọng: đạt được, nhờ người có địa vị cao thì như ý.
    • Nghề nghiệp: ổn định việc đang làm sẽ phát triển.
    • Chờ người: Sẽ đến, đồng thời còn mang lại tin vui.
    • Gia đạo: Gia đình thịnh vượng, ngày càng sung túc.
    • Vật bị mất: Bạn có thể tìm thấy nó. Hãy tìm ở hướng nam hoặc tây nam.
    • Pháp lý: ban đầu có lợi thế, nếu dây dưa thì bất lợi cho mình.
    • Sự việc: có thể giải quyết được nhờ vào bề trên.
    • Tài lộc: đầy đủ.
    • Mất của: tìm được.
    • Đợi người: chắc đến.
    • Thi cử: Điểm cao.
    • Kinh doanh mới, thay đổi nghề nghiệp, chuyền môn hay chỗ làm: hết sức tốt đẹp.
    • Kinh doanh: Diễn ra suôn sẻ và lợi nhuận tốt đẹp.
  • Các đại vận (tương ứng với các hào):
    • Lưu ý: Mỗi quẻ sẽ có 6 hào, mỗi hào mang ý nghĩa riêng, tuy nhiên tùy thuộc vào mỗi người có Hợp Cách hay không (tức là mệnh của mỗi người có phù hợp với quẻ này hay không, mà sự tốt xấu ban đầu của lời hào có thể thay đổi.
    • Lưu ý 2: Lời hào thường viết chung về các vấn đề tốt xấu của đời người, không phân biệt giai đoạn tuổi tác, do đó có một số trường hợp hào ứng với lứa tuổi thiếu niên hoặc lão niên nhưng vẫn ghi là Thăng quan tiến chức chẳng hạn, thì cần hiểu đây là nội dung tương đồng, tương đương với Thi cử đỗ đạt nếu ứng vào tuổi thiếu niên.
    • Hào Lục Nhị: Ứng với quãng đời từ 46 tuổi đến 51 tuổi
      • Thoán từ: 六二: 晉如, 愁如, 貞吉; 受茲介福于其王母.
      • Phiên âm: Tấn như, sầu như, trinh cát; Thụ tư giới phúc vu kì vương mẫu.
      • Lời hào: Hào tốt, trước khó sau dễ. Nhờ được phúc tổ tiên, trong nhà có mẹ hiền vợ thảo, dễ tạo sự nghiệp.
      • Trường hợp này là mệnh không hợp cách. nên chủ mệnh là: Người có phúc, được vợ đảm đang, giữ được phúc lộc tổ tiên.
      • Đánh giá: Hào cát
    • Hào Lục Tam: Ứng với quãng đời từ 52 tuổi đến 57 tuổi
      • Thoán từ: 六三: 眾允, 悔亡.
      • Phiên âm: chúng doãn, hối vong.
      • Lời hào: Hào tốt, tác động lớn của sự tín nhiệm đến tâm lý con người. Quan chức dễ thăng tiến. Sĩ tử dễ đỗ đạt. Người thường làm ăn phát đạt, có gia đình hòa thuận yên vui.
      • Trường hợp này là mệnh không hợp cách. nên chủ mệnh là: Người có tín nhiệm, nhiều bạn ít thù, dễ phát đạt có cuộc sống yên vui.
      • Đánh giá: Hào cát
    • Hào Cửu Tứ: Ứng với quãng đời từ 58 tuổi đến 66 tuổi
      • Thoán từ: 九四: 晉如, 鼫鼠, 貞厲.
      • Phiên âm: Tấn như, thạch thử, trinh lệ.
      • Lời hào: Hào xấu, như kẻ bất tài lên địa vị cao không hợp thời, không hợp vị thì giữ chính cũng nguy. Hào chỉ sự khó tiến thủ, nhiều gian nan, trở ngại, không phục lẫn nhau, dễ bị gièm pha kiện cáo.
      • Trường hợp này là mệnh không hợp cách. nên chủ mệnh là: Kẻ ngang ngạnh, làm bừa, dễ gây nên tai họa, làm hỏng cơ đồ.
      • Đánh giá: Hào hung
    • Hào Lục Ngũ: Ứng với quãng đời từ 67 tuổi đến 72 tuổi
      • Thoán từ: 六五: 悔亡, 失得勿恤, 往吉, 无不利.
      • Phiên âm: hối vong, thất đắc vật tuất, vãng cát, vô bất lợi.
      • Lời hào: Hào tốt nhiều cơ may thăng tiến. Quan chức được đề bạt, có nhiều công lao. Sĩ tử thành công, thành danh. Nhà buôn gặp thời kinh doanh phát đạt.
      • Trường hợp này là mệnh không hợp cách. nên chủ mệnh là: Người có tài đức, hết lòng vì việc nước được mọi người kính trọng.
      • Đánh giá: Hào cát
    • Hào Thượng Cửu: Ứng với quãng đời từ 73 tuổi đến 81 tuổi
      • Thoán từ: 上九: 晉其角, 維用伐邑, 厲吉, 无咎, 貞吝.
      • Phiên âm: Tấn kì giác, duy dụng phạt ấp, lệ cát, vô cữu, trinh lận.
      • Lời hào: Hào bình, địa vị cao mà thành đạt nhỏ, phúc mỏng. Sĩ tử long đong. Người thường ít lộc. Số xấu dễ bị kiện tụng, hình phạt.
      • Trường hợp này là mệnh không hợp cách. nên: Có tài có địa vị nhưng thiếu đức hạnh, vô kỉ luật làm ẩu, dễ bị giáng truất.
      • Đánh giá: Hào bình
    • Hào Sơ Lục: Ứng với quãng đời từ 82 tuổi đến 87 tuổi
      • Thoán từ: 初六: 晉如, 摧如, 貞吉, 罔孚, 裕. 无咎.
      • Phiên âm: tấn như, tồi như, trinh cát, võng phu, dụ, vô cữu.
      • Lời hào: Hào bình. Tốt với người biết thời cơ, biết tiến thoái đúng thời. Xấu với người bình thường: hay bị trở ngại gièm pha, khó tiến thủ.
      • Trường hợp này là mệnh không hợp cách. nên chủ mệnh là: Người có tài năng, có cơ hội nhưng không được tín nhiệm, bị cản trở, không toại chí. Người thường yếu đuối đoản mệnh.
      • Đánh giá: Hào bình
  • Đọc thêm nội dung quẻ này trong sách Kinh Dịch – Đạo của người quân tử:

  • Lời quẻ:
    • Dẫn: Đã tráng thịnh thì tất nhiên phải tiến lên, cho nên sau quẻ Đại tráng tới quẻ Tấn (晉), Tấn có nghĩa là tiến (進) lên.
    • Thoán từ: 晉: 康侯用錫馬蕃庶, 晝日三接.
    • Phiên âm: Tấn: Khang hầu dụng tích mã phồn thứ, trú nhật tam tiếp.
    • Dịch nôm: tiến lên, bậc hầu có tài trị nước được thưởng ngựa nhiều lần, ban ngày được tiếp tới ba lần.
    • Giảng nghĩa: Quẻ này có tượng mặt trời (ly) lên khỏi mặt đất (Khôn), càng lên cao càng sáng, tiến mạnh. Lại có thể hiểu là người dưới có đức thuận (Khôn) dựa vào bậc trên có đức rất sáng suốt (☲); cho nên ví với một vị hầu có tài trị dân (Khang hầu) được vua tín nhiệm, thưởng (tích) ngựa nhiều lần, nội một ngày mà được vua tiếp tới ba lần. Thoán truyện giảng thêm: quẻ này hào 5 có cái tượng một hào âm nhu tiến lên địa vị vua chúa: nhu tiên nhi thượng hành. Theo Chu Hi, như vậy là vì quẻ Tấn do quẻ Quán biến thành: hão quẻ Quán là âm, nhảy lên trên, thành 5 quẻ Tấn. Phan Bội châu hiểu khác: hào 5 vốn là hào dương giữa quẻ Càn, biến thành hào âm ở giữa ngoại quái Ly của quẻ Tấn. Theo tôi, cách hiểu của Chu Hi dễ chấp nhận hơn. Đại tượng truyện khuyên người quân tử xem tượng quẻ Tấn này nên tự làm cho đức của mình càng ngày càng sáng như mặt trời hiện lên khỏi mặt đất rồi tiến mãi lên.
    • Tổng luận:
  • Lời hào:
    • Hào 1:
      • Thoán từ: 初六: 晉如, 摧如, 貞吉, 罔孚, 裕. 无咎.
      • Phiên âm: tấn như, tồi như, trinh cát, võng phu, dụ, vô cữu.
      • Dịch nôm: Hào 1 âm: : muốn tiến lên mà bị chắn lại, giữ đạo chính thì tốt; nếu người chẳng tin mình thì nên khoan thai, bình tĩnh, như vậy sẽ không có lỗi.
      • Giảng nghĩa: Âm nhu ở dưới cùng, ứng với hào 4, mà 4 lại bất trung, bất chính, nên chẳng giúp mình được gì, mình muốn tiến lên mà như thể bị chặn lại. Trong hoàn cảnh đó, nếu có người không tin mình thì mình chỉ nên khoan thai, bình tĩnh tu thân là sẽ không có lỗi.
    • Hào 2:
      • Thoán từ: 六二: 晉如, 愁如, 貞吉; 受茲介福于其王母.
      • Phiên âm: Tấn như, sầu như, trinh cát; Thụ tư giới phúc vu kì vương mẫu.
      • Dịch nôm: Hào 2, âm: Tiến lên mà rầu rĩ, giữ đạo chính thì tốt; sẽ được nhờ phúc lớn của bà nội.
      • Giảng nghĩa: Hào này có đức trung chính, đáng lẽ tiến lên được nhưng trên không có người ứng viện (vì hào 5 cũng âm nhu như 2), phải tiến một mình, nên rầu rĩ. Nhưng cứ giữ đạo chính thì chẳng bao lâu sẽ gặp cơ hội tốt: hào 5 ở trên, cũng là hào âm như mình, tuy không giúp được mình trong công việc, nhưng cũng đắc trung như mình, sẽ ban phúc lớn cho mình, và mình sẽ được nhờ hào 5 như được nhờ phúc của bà nội (vương mẫu tức như tổ mẫu) mình vậy. Sở dĩ ví hào 5 với bà nội vì 5 là âm mà ở trên cao, cách 2 khá xa.
    • Hào 3:
      • Thoán từ: 六三: 眾允, 悔亡.
      • Phiên âm: chúng doãn, hối vong.
      • Dịch nôm: hào 3, âm: mọi người tin cẩn, thì mọi sự hối tiếc sẽ mất đi.
      • Giảng nghĩa: hào âm này ở trên cùng nội quái Khôn, bất trung chính, đáng lẽ có điều hối hận, nhưng có hai hào âm ở dưới đều muốn tiến lên với mình, đều tin mình, mình được lòng họ, thì còn gì phải hối tiếc nữa đâu?
    • Hào 4:
      • Thoán từ: 九四: 晉如, 鼫鼠, 貞厲.
      • Phiên âm: Tấn như, thạch thử, trinh lệ.
      • Dịch nôm: hào 4, dương : tiến lên, tham lam như con chuột đồng, cứ giữ thói đó thì nguy.
      • Giảng nghĩa: Hào này bất chính, bất trung, ở địa vị cao, tham lam muốn giữ ngôi mà lại sợ một bầy âm ở dưới dương hăng hái dắt nhau tiến lên, nên ví với con chuột đồng, vừa tham vừa sợ người . Nếu nó giữ thói đó (trinh ở đây là bền vững chứ không phải là chính đáng, vì hào 4 vốn bất chính) thì sẽ nguy, bị tai hoạ mà mất ngôi.
    • Hào 5:
      • Thoán từ: 六五: 悔亡, 失得勿恤, 往吉, 无不利.
      • Phiên âm: hối vong, thất đắc vật tuất, vãng cát, vô bất lợi.
      • Dịch nôm: Hào 5, âm: không có gì ân hận cả; nếu đừng lo được hay mất, mà cứ tiến thì tốt, không gì là không lợi.
      • Giảng nghĩa: Hào này làm chủ quẻ Tấn, có đức sáng suốt (vì ở giữa ngoại quái Ly), lại được ba hào âm ở dưới thuận giúp mình, nên không có gì phải ân hận. Nhưng nó là âm nhu, e có lòng ham được, sợ mất, cho nên Hào từ khuyên thành bại chẳng màng, cứ giữ đức sáng suốt thì sẽ thành công.
    • Hào 6:
      • Thoán từ: 上九: 晉其角, 維用伐邑, 厲吉, 无咎, 貞吝.
      • Phiên âm: Tấn kì giác, duy dụng phạt ấp, lệ cát, vô cữu, trinh lận.
      • Dịch nôm: Hào trên cùng, dương: chỉ tiến cặp sừng thôi, lo trị cái ấp riêng của mình thôi thì dù có nguy, kết quả cũng tốt, không tội lỗi, nhưng dù được điều chỉnh thì cũng đáng thẹn.
      • Giảng nghĩa: Dương cương mà ở trên cùng quẻ Tấn, có nghĩa là cứng đến cùng cực, mà ham tiến cũng cùng cực, không khác con thú hung hăng chỉ húc bằng cặp sừng. Như vậy không làm được việc lớn, chỉ giữ được cái vị của mình, như trị được cái ấp riêng của mình thôi, dù có nguy thì cũng vẫn thành công đấy. Có điều là ở thời đại Tiến lên mà chỉ làm được vậy, chứ không thành sự nghiệp lớn thì cũng đáng thẹn đáng tiếc.
  • Chuyên mục: Bài viết