hoc phong thuy gia re tai ha noi

Hà đồ Lạc thư theo phái Huyền không

Hà đồ Lạc thư theo phái Huyền không

Trong phong thủy, Huyền không học được vận dụng rất nhiều, có độ ứng nghiệm cao. Được phong thủy học đương đại phong là “Kinh dịch sống”. Đây là trường phái chính của phong thủy học đương đại. Những kiến thức cơ bản về Huyền không và Lý khí cũng là trọng điểm của phong thủy học đương đại. Như vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu về Hà đồ Lạc thư theo phái Huyền không nhé!

Hà đồ Lạc thư theo phái Huyền không

Hà đồ Lạc thư theo phái Huyền không

 

Hà đồ

Số của Hà đồ là trời lấy 1 sinh cho, đất lấy 6 làm thành. Trong quá trình vận động không ngừng mà hình thành trạng thái “cõng Âm ôm Dương”. Âm ở ngoài, Dương ở trong.

Tiên thiên Bát quái vận hành ngược chiều kim đồng hồ. Hình thức biểu hiện là Thái cực đồ. Thái cực là do Âm Dương hòa hợp thành một thể, trong trạng thái hỗn độn mà sinh ra Âm Dương. Huyền là một, là Thái cực, là Âm Dương, là trạng thái hỗn độn.

Hà đồ Lạc thư theo phái Huyền không

Lạc thư

Số của Lạc thư là cửu (9). Quỹ tích vận hành của Cửu tinh là “bát thập nhị bộ” (81 bước). Lạc thư được sắp xếp ngược theo sơ đồ mặt phẳng. Âm Dương hợp thành Ngũ hành, là bản thể cấu thành vạn vật. Luôn duy trì sự cân bằng Âm Dương tương đối ổn định trong trạng thái vận động. Nếu đánh mất sự cân bằng thì vạn vật đều bị tiêu diệt.

Hậu thiên Bát quái là sự dung hòa về phương vị, thời gian, không gian của Lạc thư thành một thể. Tuy nhiên V mượn số để biểu thị tượng, còn Bát quái lại biểu thị bằng tượng. Hậu thiên Bát quái là sự tương xung tương hợp của Âm Dương trong trạng thái động.

Cửu là cửu tinh, vận chuyển theo vòng tuần hoàn vô hạn trong vũ trụ với quỹ tích của Lạc thư. Cửu là biến số, là tổng của biến số. Trong quá trình thay đổi, nó vẫn duy trì sự cân bằng của Âm Dương.

Lạc thư, Âm Dương, Hậu thiên Bát quái, chín số đều vận động có trình tự và theo quy luật trong vũ trụ. Sự vận động này được gọi là sự vận động của một loại khí. Từ đó phát huy tác dụng hiện điềm cát hung của vạn vật. Vì loại khí này không thể nhìn thấy hay sờ thấy nên đã mượn chữ “không” để biểu thị sự tồn tại.

Tham khảo thêm bài viết Thế nào là phong thủy Huyền không? tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Sự đến đi tụ tán của nước (2)

Sự đến đi tụ tán của nước (2)

Thủy là huyết mạch của long. Người xưa cũng cho rằng: “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài”. Quan điểm này cũng đủ chứng minh vai trò của nước trong phong thủy học. Hình dạng và trạng thái của nước ảnh hưởng rất nhiều đến phong thủy. Dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu về sự đến đi tụ tán của nước.

Sự đến đi tụ tán của nước

Sự đến đi tụ tán của nước

 

Tiêu chuẩn chọn nước của các nhà phong thủy là lấy nguồn nước và hình thái nước làm cơ sở. Dòng nước phải quanh co uốn lượn, dòng nước chảy ngang phải có thế “hoàn bão” (bao bọc). Nước chảy đi phải như nửa muốn chảy nửa muốn dừng, nước tụ phải tinh khiết du dương.

Trái lại, nước chảy thẳng và chảy xiết là không tốt. Nguồn nước phải sâu, như vậy long khí mới vượng, mới có thể phát phúc được lâu. Nếu nguồn nước ngắn mà khứ mạch dài thì cũng không có tác dụng.

Chúng ta cũng phải quan tâm đến sự ảnh hưởng mà nước mang lại. Người xưa đã sớm nhận thức được hai mặt cương nhu của nước. Cũng tổng kết ra được rất nhiều biện pháp hợp lý để chọn đất và xây dựng công trình phòng chống nước gây tai họa.

Những nhận thức về nước trong phong thủy thời cổ đại phần lớn đều phù hợp lý luận khoa học. Nên ngày nay vẫn có thể sử dụng được. Ví dụ khi chọn đất phải chọn trên đồi cạnh bờ sông. Mà đồi này phải cao hơn mực nước khi xảy ra lũ lụt. Tránh nơi nước chảy xiết, những thềm sông mà nền không chắc,…

Người xưa cũng cho rằng, dòng nước chảy có thể mang lại vận tài tốt. Nếu là nước tù (nước đọng) thì sẽ mang lại những ảnh hưởng không có lợi.

Tham khảo thêm bài viết Sự đến đi tụ tán của nước tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Tìm hiểu về Loan đầu đệ nhất quyết

Tìm hiểu về Loan đầu đệ nhất quyết

Tứ linh sơn quyết còn gọi là Loan đầu đệ nhất quyết. Tức là “trái Thanh long, phải Bạch hổ, trước Chu tước, sau Huyền vũ”.

Tìm hiểu về Loan đầu đệ nhất quyết

Tìm hiểu về Loan đầu đệ nhất quyết

Tứ linh sơn quyết

Thời Trung Quốc cổ đại có truyền thuyết về bốn loài vật linh thiêng. Đó là” Thanh long, Bạch, hổ, Chu tước (phượng hoàng), Huyền vũ (rồng và rùa).

  • tả Thanh long chỉ Loan đầu ở bên tay trái
  • hữu Bạch hổ chỉ Loan đầu ở bên tay phải
  • phía trước Minh đường chính là Chu tước
  • phía sau kháo sơn chính là Huyền vũ

Xét từ góc độ hình khí, một trường khí tốt phải có đủ tứ linh. Đặc biệt là phía sau của công trình kiến trúc nhất định phải có kháo sơn. Có nghĩa là phải có núi hoặc công trình khác ở đằng sau. Kháo sơn là Loan đầu tốt nhất trong phong thủy. Nếu không có kháo sơn sẽ không có cảm giác an toàn, không có quý nhân phù trợ.

Minh đường là chỉ phía trước công trình phải có khoảng không gian rộng rãi và thoáng đãng. Như vậy mới được coi là phong thủy tốt. Nếu Minh đường rộng rãi chứng tỏ người ở đây giàu có, tràn trề sức sống. Phía trước có Minh đường, phía sau có kháo sơn cho thấy có quý nhân giúp đỡ, tiền đồ xán lạn.

“Tả Thanh long, hữu Bạch hổ” cũng là thuật ngữ thường dùng của phong thủy học nhập môn. Trái Thanh long tượng trưng cho sức mạnh lực lưỡng của nam giới. Phải Bạch hổ tượng trưng cho sự dẻo dai, bền bỉ của nữ giới.

Tham khảo thêm bài viết Tìm hiểu về phái Loan đầu tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Ngũ tính và giếng nước (2)

Ngũ tính và giếng nước (2)

 

Thời xưa mọi người rất coi trọng việc đào giếng. Nên người Ngũ tính phải căn cứ vào đặc điểm của họ mình để đào giếng ở phương vị thích hợp. Dưới đây là bài viết giới thiệu về Ngũ tính và giếng nước theo phong thủy học.

Ngũ tính và giếng nước

Ngũ tính và giếng nước

 

Người họ Cung

Người họ Cung ăn nước giếng Cung, thường ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Người họ Cung ăn nước giếng Chủy, sẽ có 8 người con, được phú quý. Người họ Cung ăn nước giếng Giốc, đại hung. Người họ Cung ăn nước giếng Thương, cũng có thể có 8 người con, đại cát. Người họ Cung ăn nước giếng Vũ sẽ phạm sát tới 3 người, đại hung.

Người họ Thương

Người họ Thương ăn nước giếng Thương, thường ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Người họ Thương ăn nước giếng Giốc, ban đầu thì đại cát, sau đó lại gặp nguy hiểm. Người họ Thương ăn nước giếng Cung, sẽ có 8 người con, được phú quý. Người họ Thương ăn nước giếng Chủy, đại hung. Người họ Thương ăn nước giếng Vũ, sẽ có 5 người con, được phú quý.

Người họ Giốc

Người họ Giốc ăn nước giếng Giốc, thường ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Người họ Giốc ăn nước giếng Cung, sướng trước khổ sau. Người họ Giốc ăn nước giếng Thương, trước đại cát sau đại hung. Người họ Giốc ăn nước giếng Chủy, tương sinh, là biểu hiện của sự may mắn. Người họ Giốc ăn nước giếng Vũ, sẽ có 5 người con, được phú quý.

Người họ Chủy

Người họ Chủy ăn nước giếng Chủy, thường ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Người họ Chủy ăn nước giếng Giốc, sẽ có 9 người con, đại cát. Người họ Chủy ăn nước giếng Thương, ban đầu thì tốt, nhưng sau đó gặp nguy hiểm. Người họ Chủy ăn nước giếng Vũ, sẽ có người phải sống cô độc, bệnh tật triền miên, dẫn đến tử vong.

Người họ Vũ

Người họ Vũ ăn nước giếng Vũ, thường ăn mặc không được đầy đủ. Người họ Vũ ăn nước giếng Giốc, sẽ có 5 người con, đại cát. Người họ Vũ ăn nước giếng Cung, sẽ có người phải sống cô độc. Người họ Vũ ăn nước giếng Thương, sẽ có 4 người con, được phú quý. Người họ Vũ ăn nước giếng Chủy, ban đầu thì tốt, nhưng có thể sẽ không có con cháu.

Tham khảo thêm bài viết Ngũ tính và giếng nước tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Nhà cửa của Ngũ tính (2)

Nhà cửa của Ngũ tính (2)

Thuật Ngũ tính tướng trạch là những quy định và cách phán đoán cát hung cho nhà ở. Ứng dụng phương pháp phân loại Ngũ tính và lý luận Ngũ hành sinh khắc. Dựa vào Ngũ tính để đặt tên và phân loại cho việc trổ cửa. Bài viết dưới đây sẽ giới thiệu về nhà cửa của Ngũ tính.

Nhà cửa của Ngũ tính

Nhà cửa của Ngũ tính

 

Người họ Giốc ra vào Giốc môn thì tiền bạc dư dật, nhưng lại tiêu pha phung phí. Vì thế có số sướng trước khổ sau, là hung. Người họ Giốc ra vào Chủy môn thì sinh được quý tử, khổ trước sướng sau. Người họ Giốc ra vào Vũ môn, tương sinh là cát, tiền của dư dật, được phú quý, đại cát. Người họ Giốc ra vào Cung môn, gặp nhiều tai họa. Người họ Giốc ra vào Thương môn, tương khắc. Gặp nhiều rủi ro, trộm cướp, khiến cuộc sống nghèo khổ, hay ốm đau.

Người họ Chủy ra vào Chủy môn, phú quý, đại cát. Người họ Chủy ra vào Cung môn, phú quý, tiền của dư dật, tốt cho con cháu. Người họ Chủy ra vào Thương môn, hao tốn tiền của. Người họ Chủy ra vào Giốc môn, sướng trước khổ sau. Người họ Chủy ra vào Vũ môn, tất sẽ gặp tai họa, đại hung.

Người họ Cung ra vào Giốc môn, tương khắc tương thương, không tốt. Người họ Cung ra vào Chủy môn, phú quý, tăng nhân khẩu. Người họ Cung ra vào Cung môn, không phải lo nghĩ về vấn đề cơm áo. Người họ Cung ra vào Vũ môn, tương khắc, đại hung.

Người họ Thương ra vào Giốc môn, tương khắc, đại hung. Người họ Thương ra vào Chủy môn, đại hung. Người họ Thương ra vào Cung môn, phú quý, con cháu sung túc, sinh được quý tử. Người họ Thương ra vào Thương môn, đời sống vật chất thiếu thốn. Người họ Thương ra vào Vũ môn, phú quý, tiền của dư dật, đại cát.

Người họ Vũ ra vào Giốc môn, tiền của tích tụ, sinh được quý tử. Người họ Vũ ra vào Chủy môn, tương khắc, bị giam cầm. Người họ Vũ ra vào Thương môn, gặp nhiều tai họa. Người họ Vũ ra vào Vũ môn, phú quý.

Tham khảo thêm bài viết Nhà cửa của Ngũ tính tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch

Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch

Phong Thủy Bát Trạch đã phân chia một cách nghiêm ngặt Dương Trạch thành tám bộ phận. Bao gồm các hướng đông, nam, tây, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc. Xét về lý luận thì tám phương vị này có liên quan đến mệnh quái của con người. Mỗi phương vị lại hợp với một số mệnh quái nhất định và cũng không hợp với một số mệnh quái nhất định.

Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch

Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch

 

Thái cực phân Âm Dương. Trong Dương có Âm có Dương, tức Thái Dương, Thiếu Âm. Trong Âm cũng có Dương có Âm, tức Thái Âm, Thiếu Dương.

  • Trong Thái Dương, Dương Càn Âm Đoài
  • Trong Thiếu Âm, Dương Chấn Âm Ly
  • Trong Thiếu Dương, Dương Khảm, Âm Tốn
  • Trong Thái Âm, Dương Cấn Âm Khôn

Đó chính là nội dung được phản ảnh trong Tiên thiên Bát quái.

  • Càn ứng với 9, tượng trưng cho cha
  • Khôn ứng với 1, tượng trưng cho mẹ
  • Tốn ứng với 2, tượng trưng cho trưởng nữ
  • Khảm ứng với 7, tượng trưng cho thứ nam
  • Ly ứng với 3, tượng trưng cho thứ nữ
  • Cấn ứng với 6, tượng trưng cho thiếu nam
  • Đoài ứng với 4, tượng trưng cho thiếu nữ

Đó chính là nội dung được phản ánh trong Hậu thiên Bát quái. Căn cứ vào Hà đồ, Lạc thư thì 5 thuộc trung cung.

Vì vậy, hợp của Tiên thiên là Sinh khí. Hợp của Hậu thiên là Diên niên. Hợp của số 5 là Thiên y.

Càn và Ly, Đoài và Chấn, Khôn và Khảm, Cấn và Tốn lấy Âm khắc Dương là Tuyệt mệnh.

Càn và Chấn, Tốn và Khôn, Khảm và Cấn, Đoài và Ly lấy Dương khắc Dương, Âm khắc Âm, là Ngũ quỷ.

Càn và Khảm, Cấn và Chấn, Tốn và Đoài, Khôn và Ly thì lục thân tương hình, là Lục sát.

Càn và Tốn, Khảm và Đoài, Cấn và Ly, Khôn và Chấn thì Kim Thủy tương khắc, mà Tý – Dậu – Sửu – Ngọ thì tương phá, là Họa hại.

Tham khảo thêm bài viết Bát quái và tám hướng tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (4)

Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (4)

Theo phong thủy Huyền Không, Cửu tinh có liên quan đến tài vận của mỗi người. Nếu hiểu rõ về mối quan hệ giữa Cửu tinh và tài vận thì có thể hóa giải thất vận của mỗi người. Giúp tài vận ngày càng thêm thịnh vượng.

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

 

Vận dụng Cửu tinh

Thất Xích phi tinh

Thất Xích Phá Quân, Ngũ hành thuộc Kim. Màu sắc là màu trắng, màu vàng kim, màu bạc. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Đoài.

Khi đắc vận thì đinh tài đều vượng. Giỏi về ca hát, diễn thuyết, bói toán.

Khi thất vận thì chủ về miệng lưỡi thị phi, có người chết trận hoặc bị ngục tù. Mắc bệnh về đường hô hấp, miệng lưỡi và phổi.

Bát Bạch phi tinh

Bát Bạch Tả Phụ, Ngũ hành thuộc Thổ. Màu sắc là màu trắng, màu vàng nhạt. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Cấn.

Khi đắc vận là Thái Bạch tài tinh, là Tài tinh hạng một. Sao này mang lại công danh phú quý. Thành công về sự nghiệp, phát về điền trạch. Là sao may mắn nhất trong Cửu tinh.

Khi thất vận thì mất mát điền sản, bị tổn thương nhẹ. Mắc bệnh dịch, tay chân và sống lưng bị tổn thương. Ham mê cờ bạc mà lụn bại gia tài.

Cửu Tử phi tinh

Cửu Tử Hữu Bất, Ngũ hành thuộc Hỏa. Màu sắc là màu đỏ, màu tím. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Ly.

Khi đắc vận sao này là sao may mắn và sao ái tình. Mang lại mối nhân duyên tốt đẹp và số đào hoa. Gặp nhiều may mắn, vượng đinh vượng tài. Sinh thêm con, phát về điền sản, sự nghiệp hưng thịnh.

Khi thất vận thì chủ về số đào hoa, nôn ra máu. Phá tài tổn đinh cực kỳ nhanh chóng. Gặp hỏa hoạn, mắc bệnh tim, băng huyết.

Tham khảo thêm bài viết Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (3) tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (3)

Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (3)

Theo phong thủy Huyền Không, Cửu tinh có liên quan đến tài vận của mỗi người. Nếu hiểu rõ về mối quan hệ giữa Cửu tinh và tài vận thì có thể hóa giải thất vận của mỗi người. Giúp tài vận ngày càng thêm thịnh vượng.

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

 

Vận dụng Cửu tinh

Tứ Lục phi tinh

Tứ Lục Văn Khúc, Ngũ hành thuộc Mộc. Màu sắc là màu xanh biếc. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Tốn.

Khi đắc vận là sao Văn Xương. Giỏi về văn hóa và nghệ thuật, khoa cử đỗ đạt, văn chương lừng danh. Sống nhờ vợ hoặc lấy được người chồng tốt.

Khi thất vận thì chủ về số đào hoa. Vì đam mê tửu sắc mà gặp họa. Bị hen suyễn, mắc bệnh ở gan hoặc từ thắt lưng trở xuống. Ở thời cổ là điềm trong nhà dễ có người treo cổ tự tử. Thời hiện đại là điềm uống thuốc độc tự tử.

Ngũ Hoàng phi tinh

Ngũ Hoàng Liêm Trinh, Ngũ hành thuộc Thổ. Màu sắc là màu vàng. Phương vị hậu thiên Bát quái thuộc trung cung.

Khi đắc vận thì uy nghiêm lừng lẫy như hoàng đế, thống lĩnh bốn phương. Bởi vậy long bào của hoàng đế ngày xưa đều có màu vàng.

Khi thất vận sẽ trở thành Ngũ Hoàng sát, là Thổ sát cực hung, chủ về chết chóc. Nếu nghiêm trọng có thể chết đến năm người hoặc tai họa có liên quan đến số 5. Nếu gặp các cát tinh khác có thể hóa giải ít nhiều. Nếu lại gặp các hung tinh như Nhị Hắc lại càng thêm hại. Chắc chắn sẽ mắc bệnh nan y.

Lục Bạch phi tinh

Lục Bạch Vũ Khúc, Ngũ hành thuộc Kim. Màu sắc là màu trắng. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Càn. Khi đắc vận là Tài tinh. Kết hợp với Nhất Bạch và Bát Bạch thành Tam đại tài tinh.

Khi sinh vượng đắc vận thì vượng nhân đinh, quyền uy. Làm võ tướng thì công trạng hiển hách.

Khi thất vận là sao Thất tài (mất mát, thất thoát tiền của). Vì ham mê cờ bạc mà khuynh gia bại sản, chết trong binh đao. Khiến người trong nhà phải sống cô quả, mắc bệnh về phổi.

Tham khảo thêm bài viết Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (2) tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Tìm hiểu cấu tạo mặt la bàn phong thủy

Tìm hiểu cấu tạo mặt la bàn phong thủy

La bàn, còn gọi là la kinh, la bàn phong thủy. Đây là công cụ cần thiết để xác định phương hướng của các thầy địa lý, thầy phong thủy. Dưới đây chúng ta hãy cùng tìm hiểu cấu tạo mặt la bàn phong thủy nhé!

Tìm hiểu cấu tạo mặt la bàn phong thủy

Tìm hiểu cấu tạo mặt la bàn phong thủy

 

La bàn là công cụ thực nghiệm quan trọng nhất trong văn hóa phong thủy. Trên mặt la bàn có rất nhiều tầng khác nhau. Nội dung vô cùng phong phú. Bao gồm: Ngũ hành Bát quái, Can chi Giáp Tý, tiết khí phương vị, Thiên văn lịch pháp,… Ở đây, chúng tôi sẽ lấy Huy bàn làm ví dụ để giới thiệu về cấu tạo la bàn.

Tầng thứ nhất: Thiên trì, tức Thái cực

Kim nam châm ở chính giữa, đầu đen chỉ hướng bắc, đầu đỏ chỉ hướng nam. Trong lý luận phong thủy, Thiên trì và kim châm rất quan trọng. Có tác dụng lập quy củ, đo nặng nhẹ, thành vuông tròn.

Kim la bàn chỉ hướng Tý Ngọ chia la bàn thành Lưỡng nghi. Hai nghi kết hợp với Mão Dậu hợp thành Tứ tượng. Tứ tượng sinh ra Bát quái. Bát quái dùng để định phương vị, nên đạo trời thành, đạo đất bằng, đạo người lập.

Tầng thứ hai: Tiên thiên Bát quái

Bát quái được tổng kết từ quá trình cộng sinh giữa con người và thiên nhiên. Tương truyền Tiên thiên bát quái do Phục Hy sáng tạo nên. Vì vậy, nó còn được gọi là Bát quái Phục Hy.

Tầng thứ ba: Địa mẫu Phiên quái Cửu tinh

Có hai quan điểm về Cửu tinh:

  • Cửu tinh gồm chín sao: Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Vũ khúc, Liêm trinh,Phá quân, Tả phụ, Hữu bật
  • Cửu tinh gồm: Thái dương, Thái âm, Kim thủy tinh, Mộc tinh, Thiên tài, Thiên cương, Cô diệu, Táo hỏa, Tảo đãng

Tìm hiểu cấu tạo mặt la bàn phong thủy

Tầng thứ tư: Hai mươi tư Thiên tinh

Thiên tinh tổng cộng có 24 ngôi sao. Gồm: Thiên hoàng, Thiên cứu, Thiên khôi, Thiên ất, Thiên hán, Thiếu vi, Thiên quan, Thiên việt, Thiên đế, Nam cực, Thái vi, Thiên bính, Thái ất, Thái canh, Thiên hành, Thiên mệnh, Thiên uyển, Thiên thị, Thiên bội, Thiên trù, Thiên lũy, Thiên phụ, Thiên ma, Thiên thường.

Tầng thứ năm: Hai mươi tư sơn

Hai mươi tư sơn, còn gọi là hai mươi tư phương vị. Đây được gọi là nội bàn hay chính châm. Hai mươi tư phương vị này trên ứng với hai mươi tư tiết khí, dưới ứng với hai mươi tư sơn.

Trình tự sắp xếp là: Chính bắc quẻ Khảm; Nhâm, Tý, Quý. Đông bắc quẻ Cấn; Sửu, Cấn, Dần. Chính đông quẻ Chấn; Giáp, Mão, Ất. Đông nam quẻ Tốn; Thìn, Tốn, Tỵ. Chính nam quẻ Ly; Bính, Ngọ, Đinh. Tây nam quẻ Khôn; Mùi, Khôn, Thân. Chính tây quẻ Đoài; Canh, Dậu, Tân. tây bắc quẻ Càn; Tuất, Càn, Hợi.

Trong thuật phong thủy, hai mươi tư hướng được dùng để xác định sơn hướng và thủy hướng.

Tầng thứ sáu: Hai mươi tư tiết khí

Bắt đầu bằng tiết Lập xuân – Cấn. Kết thúc bằng tiết Đại hàn – Sửu. Dựa vào Ngũ hành để quan sát Thiếu âm, Thiếu dương, Thái âm, Thái dương.

Tham khảo thêm bài viết Giới thiệu về La bàn: Công cụ cần thiết trong phong thủy Huyền Không tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Dạy phong thủy: Kiến thức cơ bản về phái Hình thế

Dạy phong thủy: Kiến thức cơ bản về phái Hình thế

Phái Hình thế căn cứ vào long, huyệt, sa, thủy để luận đoán trạng thái cát hung của hình thế địa lý. Chú trọng việc xác định phương hướng. Phái Hình thế có rất ít điều kiêng kỵ, nội dung lại dễ hiểu. Vì vậy được lưu truyền tương đối rộng rãi trong phong thủy học. Hãy cùng tìm hiểu về kiến thức cơ bản về phái Hình thế nhé!

Kiến thức cơ bản về phái Hình thế

Kiến thức cơ bản về phái Hình thế

Phái Hình thế do Dương Quân Tùng và Tăng Văn Thuyên, người Giang Tây sáng lập. Phái Hình thế chú trọng long, huyệt, sa, thủy và định hướng, tìm long mạch. Hình tượng hóa đặc trưng của địa hình, địa thế. Dựa vào hình thế tự nhiên mà đặt tên. Ứng dụng thực tiễn của phái Hình thế rất phong phú.

 

Lý luận của phái Hình thế

Lý luận của phái Hình thế chủ yếu liên quan đến môi trường tự nhiên như đất đai, mạch núi, hướng chảy, hình dáng và số lượng dòng chảy. Phái Hình thế chú trọng việc lựa chọn hình thế núi sông và môi trường tự nhiên bên ngoài nhà ở.

Phương pháp chủ yếu là “phép xem núi nếm nước” và “phép sơn hoàn thủy bão”. Lý luận là “Âm Dương giao hòa”, “núi non bao bọc, gần nguồn nước ắt sẽ có khí”, “tìm long, điểm huyệt, xem sa, chọn hướng”.

Hình chính là hình dáng của núi nơi kết huyệt. Hình là yếu tố chính để tạo thế và tụ khí. Sinh khí dựa vào thế mà vận hành, dựa vào hình mà dừng, hình là sự tổng kết về thế. Thế là chỉ hình dáng mấp mô nối tiếp từ điểm khởi nguồn của long mạch tới long huyệt. So với hình thì hình gần thế xa, hình nhỏ thế to. Nên muốn bàn về hình thì trước tiên phải quan sát thế.

Kiến thức cơ bản về phái Hình thế

Các nguyên tắc chung của phái Hình thế

Đó là:

  • Thiên Địa Nhân hợp nhất
  • Âm Dương cân bằng
  • Ngũ hành tương sinh tương khắc

Lý luận của phái Lý khí và phái Hình thế có liên quan đến nhau. Người học phong thủy cần phải tinh thông cả hai phái.

Các môn phái

Thời Minh Thanh, nhìn chung phái Hình thế lưu hành rộng hơn phái Lý khí. Vì lý luận và hoạt động thực tiễn mà phái Hình thế chủ trương có cảm nhận về hình dạng trực quan và chức năng vật chất nhất định. Và dễ được mọi người tiếp nhận hơn.

Phái Hình thế lại tiếp tục phân chia. Chủ yếu chia thành ba môn phái là: phái Loan đầu, phái Hình tượng và phái Hình pháp.

Trong đó phái Hình pháp chú trọng việc quan sát hình thế sơn thủy quanh công trình. Vì phái này chủ yếu hoạt động ở Giang Tây nên còn có tên gọi khác là phái Giang Tây.

Tham khảo thêm bài viết Kiến thức cơ bản về phái Lý khí tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments