Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi

Nạp giáp là một thuật ngữ của Dịch học. Tức là phối thiên can và địa chi vào quẻ sáu hào. Đồng thời kết hợp với ngũ hành, phương vị. Khiến cho mỗi quẻ, mỗi hào đều mang thuộc tính can chi ngũ hành. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa sáu hào và can chi trong phong thủy học.

Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi

Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi

Thiên can địa chi là gì?

Thiên can

Thiên can còn gọi tắt là can, là khí của trời. Thiên can tổng cộng có mười, được sắp xếp theo trình tự cố định. Là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Trong đó, Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là can dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là can âm.

Trong cuốn sử “Thế bản” thì can chi là do Đại Nạo sáng chế ra. “Lấy cái tính của ngũ hành, quan sát sao Bắc Đẩu, làm ra hệ thống Giáp, Ất để đặt tên ngày, gọi là can. Làm ra hệ thống Tý, Sửu để đặt tên tháng, gọi là chi. Cúng tế trời thì dùng ngày, cúng tế đất thì dùng tháng, có sự phân biệt âm dương. Nên mới có tên gọi can, chi.”

Trình tự của mười thiên can thể hiện toàn bộ quá trình từ manh nha đến phát triển, hưng thịnh, suy thoái, tiêu biến của vạn vật. Người xưa nhận định rằng, thiên can có quan hệ tới sự lặn mọc của mặt trời. Mặt trời mọc rồi lại lặn, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng của vạn vật.

  • Giáp: vạn vật tách vỏ nảy mầm
  • Ất: vạn vật lớn lên
  • Bính: vạn vật phát triển rõ rệt
  • Đinh: vạn vật lớn mạnh
  • Mậu: vạn vật trở nên phồn thịnh
  • Kỷ: vạn vật bắt đầu có hình để phân biệt
  • Canh: vạn vật đổi mới, thu hoạch để chờ xuân.
  • Tân: vạn vật đều có thành quả mới mẻ
  • Nhâm: Dương khí ẩn tàng, muôn vật được dưỡng dục
  • Quý: trạng thái manh nha của vạn vật

Địa chi

Mười hai địa chi, gọi tắt là địa chi. “Tuế âm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là mười hai địa chi.” Trình tự của mười hai địa chi cũng hàm ẩn quá trình phát triển biến hóa của sự vật.

  • Tý: sinh sôi
  • Sửu: nút dây, trạng thái manh nha của sự vật
  • Dần: diễn biến, bắt đầu sinh trưởng
  • Mão: nảy nở
  • Thìn: chấn động, phát triển phồn thịnh
  • Tị: đã, đã thành hình
  • Ngọ: sự vật phát triển lớn mạnh
  • Mùi: mờ mịt, khí Âm phát triển, vạn vật suy thoái, hình thể lu mờ
  • Thân: vạn vật đã trưởng thành
  • Dậu: già
  • Tuất: diệt
  • Hợi: hạt, sự vật đã ẩn vào trong hạt

Địa chi có quan hệ với sự biến hóa của vật lý địa cầu. Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là chi dương. Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi là chi âm.

Trong lịch pháp, người ta dùng tổ hợp thiên can địa chi để ghi năm hoặc ngày. Can dương phối với chi dương, can âm phối với chi âm, tổng cộng cơ 60 tổ hợp. Cứ 60 năm lại là một chu kỳ, được gọi chung là 60 Giáp Tý. Người xưa dùng 60 Giáp Tý để ghi giờ, ngày, tháng, năm.

Tham khảo thêm bài viết Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi (2) tại đây!

Facebook Comments

Posted by Minh Loan

Trả lời