Bài viết

Sự kết hợp âm dương và ngũ hành

Sự kết hợp âm dương và ngũ hành

Học thuyết âm dương ngũ hành là lý luận duy vật và tư tưởng biện chứng đơn giản của Trung Quốc cổ đại. Nó cho rằng thế giới vật chất được hình thành, phát triển, thay đổi dưới sự tác động của 2 khí âm dương. Năm vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là nguyên tố cơ bản để cấu thành thế giới. Chúng cùng chế ước lẫn nhau. Và luôn ở trong trạng thái thay đổi, vận động không ngừng. Huyền không học trong phong thủy học đã được phát triển trên cơ sở của học thuyết âm dương ngũ hành. Vậy hãy cùng tìm hiểu sự kết hợp âm dương và ngũ hành nhé.

Sự kết hợp âm dương và ngũ hành

Sự kết hợp âm dương và ngũ hành

 

Trong lịch sử Dịch học, Trâu Diễn là người đầu tiên kết hợp khái niệm âm dương và ngũ hành. Ông đã đưa ra thuyết âm dương và ngũ hành một cách hệ thống. Tức là thuyết Ngũ đức thủy chung. Đây là một thứ triết học kết hợp bởi số tượng của âm dương ngũ hành và thiên mệnh quan.

Đến thời Tần Hán, học thuyết âm dương ngũ hành bắt đầu trở thành hệ thống triết học chi phối vạn vật.

Sang thời Tây Hán, học thuyết âm dương ngũ hành dần được người đời công nhận. Người cuối cùng hoàn thành hệ thống này đó là Hoài Nam Tử và Đổng Trọng Thư. Họ lần lượt đại diện cho hai trường phái chính là “Đạo” và “Nho”, chiếm lĩnh các lĩnh vực học thuật khác nhau. Tuy nhiên chúng lại liên kết, bổ sung và hội nhập với nhau.

Trong quá trình phát triển, “Đạo” và “Nho” đã mang đến những nguyên tố mới cho Dịch học. Sự hội nhập Nho học, Đạo giáo và Dịch học đã làm cho nền văn hóa truyền thống của Trung Quốc ngày càng phát triển phồn thịnh.

Tham khảo thêm bài viết Mối quan hệ giữa nhà ở và Âm Dương tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Quan hệ tương sinh giữa ngũ hành

Quan hệ tương sinh giữa ngũ hành

Học thuyết âm dương ngũ hành là lý luận duy vật và tư tưởng biện chứng đơn giản của Trung Quốc cổ đại. Nó cho rằng thế giới vật chất được hình thành, phát triển, thay đổi dưới sự tác động của 2 khí âm dương. Năm vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là nguyên tố cơ bản để cấu thành thế giới. Chúng cùng chế ước lẫn nhau. Và luôn ở trong trạng thái thay đổi, vận động không ngừng. Huyền không học trong phong thủy học đã được phát triển trên cơ sở của học thuyết âm dương ngũ hành. Vậy hãy cùng tìm hiểu quan hệ tương sinh giữa ngũ hành nhé.

Quan hệ tương sinh giữa ngũ hành

Quan hệ tương sinh giữa ngũ hành

 

Quan hệ tương sinh giữa ngũ hành:

Mộc sinh Hỏa: Do Mộc tính ấm, Hỏa tiềm ẩn bên trong, khoan gỗ mà sinh Hỏa. Do vậy Mộc sinh Hỏa.

Hỏa sinh Thổ: Do Hỏa có thể đốt cháy Mộc, Mộc sau khi bị đốt cháy thì biến thành tro, tro chính là Thổ. Do vậy Hỏa sinh Thổ.

Thổ sinh Kim: Do Kim tiềm ẩn ở trong Thổ, Thổ tích thành núi, có núi tất có đá, trong đá có kim loại. Cho nên Thổ sinh Kim.

Kim sinh Thủy: Do khí thiếu âm (khí Kim) ôn nhuận, Kim nhờ vào Thủy mà sinh sôi, nung chảy Kim cũng có thể biến thành Thủy. Do vậy Kim sinh Thủy.

Thủy sinh Mộc: Do Thủy ôn nhuận mà làm cho cây cối sinh sôi. Do vậy Thủy sinh Mộc.

Quan hệ tương khắc giữa ngũ hành:

Mộc khắc Thổ: Rễ cây ăn sâu vào lòng đất, làm đất suy yếu.

Thổ khắc Thủy: Thổ có thể ngăn chặn Thủy.

Thủy khắc Hỏa: Thủy có thể dập tắt Hỏa.

Hỏa khắc Kim: Hỏa có thể nung chảy kim loại.

Kim khắc Mộc: Đồ vật làm bằng kim loại có thể dùng để chặt cây cối.

Tham khảo thêm bài viết Sự kết hợp âm dương và ngũ hành tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Ngũ hành: Phép biện chứng đơn giản

Ngũ hành: Phép biện chứng đơn giản

Học thuyết âm dương ngũ hành là lý luận duy vật và tư tưởng biện chứng đơn giản của Trung Quốc cổ đại. Nó cho rằng thế giới vật chất được hình thành, phát triển, thay đổi dưới sự tác động của 2 khí âm dương. Năm vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là nguyên tố cơ bản để cấu thành thế giới. Chúng cùng chế ước lẫn nhau. Và luôn ở trong trạng thái thay đổi, vận động không ngừng. Huyền không học trong phong thủy học đã được phát triển trên cơ sở của học thuyết âm dương ngũ hành. Vậy hãy cùng tìm hiểu về ngũ hành: phép biện chứng đơn giản nhé.

Ngũ hành: Phép biện chứng đơn giản

Ngũ hành: Phép biện chứng đơn giản

 

Khái niệm ngũ hành xuất hiện sớm nhất trong Thượng thư – Hồng Phạm. Một là Thủy – nước, hai là Hỏa – lửa, ba là Mộc – cây, bốn là Kim – kim loại, năm là Thổ – đất.

  • nước thấm xuống dưới
  • lửa bốc lên trên
  • cây cong thẳng
  • kim biến đổi
  • đất cấy gặt

Ở đây không chỉ lần lượt quy các sự vật trong vũ trụ về thuộc tính ngũ hành. Mà còn tiến hành phân chia tính chất và đặc trưng của ngũ hành.

  • “Mộc viết khúc trực”: cây có đặc tính sinh trưởng và phát triển lên cao
  • “Hỏa viết viêm thượng”: lửa có đặc tính tỏa nhiệt bốc lên
  • “Thổ viết giá sắc”: đất có đặc tính nuôi dưỡng và hóa dục
  • “Kim viết tòng cách”: kim có đặc tính thuận theo và biến đổi
  • “Thủy viết nhuận hạ”: nước có đặc tính thấm ướt và chảy xuống

Người xưa còn cho rằng, giữa ngũ hành còn tồn tại quy luật tương sinh tương khắc, tương thừa tương vũ. Tương sinh là chỉ giữa hai sự vật có thuộc tính khác nhau có mối quan hệ sinh sôi và thúc đẩy lẫn nhau. Tương khắc là chỉ giữa hai sự vật có thuộc tính khác nhau chế ước, khắc chế và kiềm chế lẫn nhau.

Tham khảo thêm bài viết Quan hệ tương sinh giữa ngũ hành tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Âm Dương: Hai mặt đối lập của sự vật (2)

Âm Dương: Hai mặt đối lập của sự vật (2)

Học thuyết âm dương ngũ hành là lý luận duy vật và tư tưởng biện chứng đơn giản của Trung Quốc cổ đại. Nó cho rằng thế giới vật chất được hình thành, phát triển, thay đổi dưới sự tác động của 2 khí âm dương. Năm vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là nguyên tố cơ bản để cấu thành thế giới. Chúng cùng chế ước lẫn nhau và luôn ở trong trạng thái thay đổi, vận động không ngừng. Huyền không học trong phong thủy học đã được phát triển trên cơ sở của học thuyết âm dương ngũ hành. Vậy hãy cùng tìm hiểu về âm dương: hai mặt đối lập của sự vật này nhé.

Âm Dương: Hai mặt đối lập của sự vật

Âm Dương: Hai mặt đối lập của sự vật

 

Âm dương trong Kinh dịch mang ý nghĩa phổ biến. Thiên (trời), Nhật (mặt trời), Sơn (núi) là dương. Địa (đất), Nguyệt (mặt trăng), Thủy (nước) là âm. Trong thế giới động vật, đực là dương, cái là âm. Đạo trời có âm dương, đạo đất có cương nhu, đạo nhân có nhân nghĩa. Trong xã hội loài người, vua, quân tử là dương; tôi, tiểu nhân là âm. Tóm lại, tất cả sự vật trong vũ trụ đều do 2 khí âm dương đối lập cấu thành.

Âm dương vừa có thể biểu thị sự vật ở trạng thái đối lập, lại có thể dùng để phân tích hai mặt đối lập cùng tồn tại bên trong một sự vật. Những thứ có tính vận động mạnh, hướng ngoại, hướng lên, ấm nóng, sáng sủa đều thuộc dương. Còn những thứ ở trạng thái tĩnh tại, hướng vào, hướng xuống, lạnh lẽo, tối tăm đều thuộc âm.

Thế giới là một chỉnh thể mang tính vật chất. Bất kì sự vật nào trong giới tự nhiên cũng đều bao hàm hai mặt âm dương đối lập. Mà hai mặt đối lập này lại thống nhất với nhau. Sự vận động thống nhất và đối lập của 2 khí âm dương là nguyên nhân cơ bản khiến cho mọi sự vật trong giới tự nhiên hình thành, phát triển, thay đổi và diệt vong. Quy luật vận động mâu thuẫn đối lập mà thống nhất của 2 khí âm dương là quy luật vốn có khiến cho mọi sự vật trong giới tự nhiên vận động và thay đổi. Bản thân thế giới chính là kết quả của quá trình vận động thống nhất mà đối lập này.

Tham khảo thêm bài viết Ngũ hành: Phép biện chứng đơn giản tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Âm Dương: Hai mặt đối lập của sự vật

Âm Dương: Hai mặt đối lập của sự vật

Học thuyết âm dương ngũ hành là lý luận duy vật và tư tưởng biện chứng đơn giản của Trung Quốc cổ đại. Nó cho rằng thế giới vật chất được hình thành, phát triển, thay đổi dưới sự tác động cả 2 khí âm dương. Năm vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là nguyên tố cơ bản để cấu thành thế giới. Chúng cùng chế ước lẫn nhau và luôn ở trong trạng thái thay đổi, vận động không ngừng. Huyền không học trong phong thủy học đã được phát triển trên cơ sở của học thuyết âm dương ngũ hành. Vậy hãy cùng tìm hiểu về âm dương: hai mặt đối lập của sự vật này nhé.

Âm Dương: Hai mặt đối lập của sự vật

Âm Dương: Hai mặt đối lập của sự vật

 

Học thuyết âm dương là vũ trụ quan và phương pháp luận của văn hóa truyền thống Trung Quốc. Nó cho rằng thế giới vật chất được hình thành, phát triển, thay đổi dưới sự tác động cả 2 khí âm dương. Hào âm (–) và hào dương (-) trong Bát quái của Kinh dịch chính là đã coi 2 khí âm dương là trung tâm. Thông qua những sự vật thay đổi vô cùng phức tạp để khái quát thành tám hình thái vật chất cơ bản. Được đặt tên là:

  • Thiên (trời)
  • Địa (đất)
  • Thủy (nước)
  • Hỏa (lửa)
  • Lôi (sấm)
  • Phong (gió)
  • Sơn (núi)
  • Trạch (đầm)

Bát quái và 64 quẻ đều do hào âm và hào dương cấu thành. Nó thể hiện sự nương tựa và chế ước lẫn nhau của 2 khí âm dương trong từng quẻ. Cho dù là quẻ Càn thuần dương cũng có quẻ Khôn thuần âm để phối hợp cùng.

“Dịch truyện” coi âm dương là nguyên nhân cơ bản nhất khiến cho tất cả mọi sự vật trong vũ trụ vận động và thay đổi. Còn “Hệ từ truyện” khái quát theo góc độ triết học là “nhất âm nhất dương chi vị đạo”. Có nghĩa là: một âm một dương gọi là Đạo. Cho rằng âm dương là nội hàm cơ bản của Đạo. Tư tưởng của Dịch truyện chính là bước nhảy vọt trọng đại trong lịch sử tư tưởng triết học của Trung Quốc.

Tham khảo thêm bài viết Âm Dương: Hai mặt đối lập của sự vật (2) tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi (3)

Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi (3)

Nạp giáp là một thuật ngữ của Dịch học. Tức là phối thiên can và địa chi vào quẻ sáu hào. Đồng thời kết hợp với ngũ hành, phương vị. Khiến cho mỗi quẻ, mỗi hào đều mang thuộc tính can chi ngũ hành. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa sáu hào và can chi trong phong thủy học.

Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi

Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi

Nạp can và nạp chi

Nạp giáp phân thành nạp can và nạp chi. Nạp can là dùng phương thức âm dương đối lập để kết hợp 10 thiên can với 8 quẻ. Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm có vị trí ở số lẻ là can dương. Ất, ĐInh, Kỷ, Tân, Quý có vị trí ở số chẵn là can âm. Càn, Khôn là điểm đầu và điểm kết của âm dương. Do vậy, ta lấy :

  • Giáp Nhâm tượng trưng cho số lẻ kết hợp với Càn
  • Ất Quý tượng trưng cho số chẵn kết hợp với Khôn
  • Canh dương kết hợp với Chấn
  • Tân âm kết hợp với Tốn
  • Mậu dương kết hợp với Khảm
  • Kỷ âm kết hợp với Ly
  • Bính dương kết hợp với Cấn
  • Đinh âm kết hợp với Đoài

8 quẻ kết hợp với 12 chi gọi là nạp chi. Sắp 12 hào của 2 quẻ Càn, Khôn tương ứng với 12 tháng trong năm, đó chính là 12 địa chi. Và Bát quái nạp chi từ đó mà có. Cách kết hợp cũng là phân 12 chi thành 2 nhóm. Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là chi dương. Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi là chi âm. 4 quẻ dương Càn, Chấn, Khảm, Cấn lần lượt kết hợp với chi dương. 4 quẻ âm Cấn, Tốn, Ly, Đoài lần lượt kết hợp với chi âm theo thứ tự khác nhau. Như vậy là được 8 quẻ nạp giáp.

Đặc điểm lớn nhất của nạp giáp là đều kết hợp các hào trong từng quẻ với can chi và ngũ hành để phát huy mối quan hệ sinh khắc xung hòa của nó. Đó là phép chính trong thuật số thời cổ đại. Nó thường được gọi là phép lục hào.

Tham khảo thêm bài viết Núi Ngũ hành trong phong thủy học tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi (2)

Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi (2)

Nạp giáp là một thuật ngữ của Dịch học. Tức là phối thiên can và địa chi vào quẻ sáu hào. Đồng thời kết hợp với ngũ hành, phương vị. Khiến cho mỗi quẻ, mỗi hào đều mang thuộc tính can chi ngũ hành. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa sáu hào và can chi trong phong thủy học.

Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi

Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi

Thế nào là nạp giáp?

Phép nạp giáp chính là đưa thiên can và địa chi vào quẻ lục hào. Lại kết hợp với ngũ hành và phương vị, để mỗi hào mỗi quẻ đều có thuộc tính can chi ngũ hành. Từ đó dựa vào mối quan hệ kì diệu của chúng để tiến hành dự đoán. Do vậy quan hệ với ngũ hành càng mật thiết hơn. Mà thuộc tính của can chi cũng chuyển sang cho quẻ và hào. Vì thế càng làm cho ý nghĩa của quẻ và hào thêm phong phú.

Phép nạp giáp bắt đầu xuất hiện từ thời nhà Hán. Thời Hán, phép nạp giáp được phân thành hai phái là phép nạp giáp kinh phòng và phép nạp giáp ngu phiên. Phép nạp giáp ngu phiên hiện không hay được dùng. Mà đa phần chỉ dùng phép nạp giáp kinh phòng.

Phép nạp giáp kinh phòng trước tiên phân 64 quẻ thành 8 cung. Tức Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Gọi là “quẻ Bát thuần”. Đồng thời coi Càn Khôn là phụ mẫu, mỗi quẻ thống lĩnh ba nam ba nữ. Bốn quẻ Càn, Chấn, Khảm, Cấn là quẻ dương. Bốn quẻ Khôn, Tốn, Ly, Đoài là quẻ âm. Mỗi quẻ thống lĩnh bảy quẻ trong 64 quẻ. Ngoài quẻ gốc là quẻ chính của cung đó. Bảy quẻ khác lần lượt gọi là Nhất thế, Nhị thế, Tam thế, Tứ thế, Ngũ thế, Du hồn và Quỷ hồn.

Tham khảo thêm bài viết Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi (3) tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi

Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi

Nạp giáp là một thuật ngữ của Dịch học. Tức là phối thiên can và địa chi vào quẻ sáu hào. Đồng thời kết hợp với ngũ hành, phương vị. Khiến cho mỗi quẻ, mỗi hào đều mang thuộc tính can chi ngũ hành. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa sáu hào và can chi trong phong thủy học.

Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi

Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi

Thiên can địa chi là gì?

Thiên can

Thiên can còn gọi tắt là can, là khí của trời. Thiên can tổng cộng có mười, được sắp xếp theo trình tự cố định. Là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Trong đó, Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là can dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là can âm.

Trong cuốn sử “Thế bản” thì can chi là do Đại Nạo sáng chế ra. “Lấy cái tính của ngũ hành, quan sát sao Bắc Đẩu, làm ra hệ thống Giáp, Ất để đặt tên ngày, gọi là can. Làm ra hệ thống Tý, Sửu để đặt tên tháng, gọi là chi. Cúng tế trời thì dùng ngày, cúng tế đất thì dùng tháng, có sự phân biệt âm dương. Nên mới có tên gọi can, chi.”

Trình tự của mười thiên can thể hiện toàn bộ quá trình từ manh nha đến phát triển, hưng thịnh, suy thoái, tiêu biến của vạn vật. Người xưa nhận định rằng, thiên can có quan hệ tới sự lặn mọc của mặt trời. Mặt trời mọc rồi lại lặn, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng của vạn vật.

  • Giáp: vạn vật tách vỏ nảy mầm
  • Ất: vạn vật lớn lên
  • Bính: vạn vật phát triển rõ rệt
  • Đinh: vạn vật lớn mạnh
  • Mậu: vạn vật trở nên phồn thịnh
  • Kỷ: vạn vật bắt đầu có hình để phân biệt
  • Canh: vạn vật đổi mới, thu hoạch để chờ xuân.
  • Tân: vạn vật đều có thành quả mới mẻ
  • Nhâm: Dương khí ẩn tàng, muôn vật được dưỡng dục
  • Quý: trạng thái manh nha của vạn vật

Địa chi

Mười hai địa chi, gọi tắt là địa chi. “Tuế âm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là mười hai địa chi.” Trình tự của mười hai địa chi cũng hàm ẩn quá trình phát triển biến hóa của sự vật.

  • Tý: sinh sôi
  • Sửu: nút dây, trạng thái manh nha của sự vật
  • Dần: diễn biến, bắt đầu sinh trưởng
  • Mão: nảy nở
  • Thìn: chấn động, phát triển phồn thịnh
  • Tị: đã, đã thành hình
  • Ngọ: sự vật phát triển lớn mạnh
  • Mùi: mờ mịt, khí Âm phát triển, vạn vật suy thoái, hình thể lu mờ
  • Thân: vạn vật đã trưởng thành
  • Dậu: già
  • Tuất: diệt
  • Hợi: hạt, sự vật đã ẩn vào trong hạt

Địa chi có quan hệ với sự biến hóa của vật lý địa cầu. Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là chi dương. Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi là chi âm.

Trong lịch pháp, người ta dùng tổ hợp thiên can địa chi để ghi năm hoặc ngày. Can dương phối với chi dương, can âm phối với chi âm, tổng cộng cơ 60 tổ hợp. Cứ 60 năm lại là một chu kỳ, được gọi chung là 60 Giáp Tý. Người xưa dùng 60 Giáp Tý để ghi giờ, ngày, tháng, năm.

Tham khảo thêm bài viết Mối quan hệ giữa sáu hào và can chi (2) tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Khám phá tính cách người mệnh Thổ (3)

Khám phá tính cách người mệnh Thổ (3)

Theo thuyết ngũ hành, mỗi người thuộc một cung mệnh khác nhau sẽ có tính cách khác nhau và có nét đặc trưng riêng về vẻ ngoài, tính cách, cuộc sống hôn nhân theo từng mệnh. Dưới đây là bài viết liên quan đến tính cách người mệnh Thổ, chăm chỉ và thích sự ổn định, hãy cùng tìm hiểu nhé.

Khám phá tính cách người mệnh Thổ

Khám phá tính cách người mệnh Thổ

 

Bệnh thường gặp

Người mệnh Thổ thường có tóc ngả vàng, mũi to và môi dày. Nếu ăn đồ béo nhiều da bị nhờn và thậm chí gây ra bệnh ngoài da. Như mụn trứng cá, phá hủy cấu trúc của da, dẫn đến sẹo lõm.

Người mệnh Thổ cần lưu ý về khí trong người. Mặt khác ruột và toàn bộ hệ tiêu hóa cũng là bộ phận dễ bị bệnh. Nên cần kiểm tra thường xuyên.

Người mệnh Thổ có dạ dày lớn, tiêu hóa và hấp thụ tốt, cơ thể hấp thụ dinh dưỡng tốt nên cơ thể rắn chắc. Đây là nguyên nhân những người mệnh Thổ có vẻ ngoài mập mạp hơn những người mệnh khác.

Đàn ông mệnh Thổ thường béo bụng do ăn nhiều thức ăn chua, ngọt, đồ ăn lạnh, ít tham gia các hoạt động thể chất. Thường là thừa cân.

Nếu đặt mục tiêu giảm cân thì phải có sự kiên trì phi thường. Không ăn chua, ngọt, thức ăn lạnh, bữa ăn tối, ăn trưa, ăn sáng đều phải đúng chế độ. Đồng thời phải dành thời gian tập luyện nhưng như vậy cơ thể sẽ béo vừa phải.

Tham khảo thêm bài viết Kiến thức về phong thủy nhà ở hợp ngũ hành Thổ tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Khám phá tính cách người mệnh Thổ (2)

Khám phá tính cách người mệnh Thổ (2)

Theo thuyết ngũ hành, mỗi người thuộc một cung mệnh khác nhau sẽ có tính cách khác nhau và có nét đặc trưng riêng về vẻ ngoài, tính cách, cuộc sống hôn nhân theo từng mệnh. Dưới đây là bài viết liên quan đến tính cách người mệnh Thổ, chăm chỉ và thích sự ổn định, hãy cùng tìm hiểu nhé.

Khám phá tính cách người mệnh Thổ

Khám phá tính cách người mệnh Thổ

 

Sự nghiệp

Tính cách người mệnh Thổ là thích sự ổn định, cầu toàn, lạc quan. Họ thường nhận được nhiều may mắn.

Nếu là lãnh đạo doanh nghiệp thì nên thuê người khác hỗ trợ. Vì sự thiếu liều lĩnh của người mệnh Thổ ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh chung.

Nhược điểm của họ là không ưa hoạt động, bảo thủ, nhàm chán, không cảm thấy cấp bách khi theo đuổi các mục tiêu. Họ chỉ tập trung vào một lĩnh vực cố định. Vì vậy, khi công ty đạt được một quy mô nhất định, họ có xu hướng trì trệ.

Người mệnh Thổ hợp với các ngành kinh doanh mặt hàng. Như địa ốc, bất động sản, công trình dân dụng cũng như khách sạn, xây dựng và phát triển bất động sản, kiến trúc sư, chiêm tinh học, phong thủy, sản xuất gốm sứ, vật liệu xây dựng, địa ốc và những ngành nghề có liên quan đến nông nghiệp hoặc chăn nuôi gia súc gia cầm.

Hôn nhân

Phụ nữ mệnh Thổ thích sự ổn định, trung thành, làm việc chăm chỉ siêng năng, tôn trọng cha mẹ. Đây là mẫu phụ nữ lý tưởng để kết hôn, vì họ chắc chắn là hậu phương vững chắc cho cả gia đình.

Đàn ông mệnh Thổ tốt bụng, có trách nhiệm, tôn trọng giá trị gia đình. Tuy nhiên, họ không biết cách chăm lo cho gia đình. Họ vốn lười biếng, không thích nói chuyện về sức khỏe. Đàn ông mệnh này không giúp đỡ vợ được nhiều. Lúc tán tỉnh họ sẵn sàng bắt tay vào giúp nhưng sau khi kết hôn thì việc đó không còn nữa. Thậm chí còn yêu cầu vợ hỗ trợ.

Tham khảo thêm bài viết Khám phá tính cách người mệnh Thổ (3) tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments