Bài viết

Khởi nguồn của thuật trấn trạch (2)

Khởi nguồn của thuật trấn trạch (2)

“Yểm thắng” còn gọi là “yểm trấn”. Nghĩa là “dùng lời nguyền để trấn phục”. Đó là một loại phép thuật được lưu truyền từ rất lâu. Trong yểm trấn cát tường, từ “yểm” đồng nghĩa với từ “áp”, tức chỉ sự tương khắc trong Ngũ hành. Như vậy, yểm trấn cát tường tức là khắc chế tà ma, xua đuổi hung ác. Dưới đây, Phong thủy Vietaa sẽ giới thiệu cho bạn về sự khởi nguồn của thuật trấn trạch.

Khởi nguồn của thuật trấn trạch

Khởi nguồn của thuật trấn trạch

Mười cách “yểm trấn cát tường”

Giấu một chiếc thuyền nhỏ vào trong đấu nhà (miếng gỗ nối cột nhà với xà ngang). Nếu đầu thuyền hướng vào trong thì có lợi cho tài vận của gia chủ.

Giấu một chiếc lá quế vào trong đấu nhà sẽ có lợi cho nghiệp học của gia chủ.

Để một ít gạo vào trong đấu nhà sẽ có lợi cho tài vận của gia chủ.

Giấu một cây thuộc họ tùng bách vào một chỗ bất kỳ nào đó trong nhà. Có thể tăng tuổi thọ cho gia chủ.

Giấu một cây bút lông vào giữa khe cửa thì gia chủ luôn là người đáng được kính trọng.

Lần lượt viết “đại cát, bình an, thái bình” lên ba lá trúc mọc liền nhau rồi giấu lên xà ngang trên mái nhà. Như vậy có thể giữ cho gia trạch luôn được bình an.

Để hai đồng tiền cổ (mặt phải ngửa lên trên) lên hai đầu của xà chính.Có thể giúp cho gia chủ danh lợi song toàn.

Giấu một hộp mực và một cây bút (đầu bút không để bị tõe ra) vào trong thanh xà ngang. Sẽ có lợi cho đường làm quan của gia chủ.

Vẽ hình chiếc hồ lô vào trong khe nối đầu tường. Sẽ có lợi cho công việc bói toán, chiêm tinh hoặc y thuật của gia chủ.

Vẽ lụa cống lên xà nhà, vẽ chiếc dây thắt lưng lên thành xà ngang hoặc vẽ chiếc ủng lên bậu cửa. Sẽ có lợi cho con đường công danh của gia chủ.

Trong xã hội hiện nay rất hiếm người sử dụng thuật yểm trấn. Nhưng lại có nhiều thầy phong thủy biết sử dụng các thuật thôi tài (cầu tài), thôi tử (cầu tự), thôi quan (cầu chức tước) hoặc kéo dài tuổi thọ. Tuy đạo cụ mà họ sử dụng khác nhau, nhưng về nguyên lý thì đều giống như thuật yểm thắng.

Tham khảo thêm bài viết Khởi nguồn của thuật trấn trạch tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Khởi nguồn của thuật trấn trạch

Khởi nguồn của thuật trấn trạch

“Yểm thắng” còn gọi là “yểm trấn”. Nghĩa là “dùng lời nguyền để trấn phục”. Đó là một loại phép thuật được lưu truyền từ rất lâu. Trong yểm trấn cát tường, từ “yểm” đồng nghĩa với từ “áp”, tức chỉ sự tương khắc trong Ngũ hành. Như vậy, yểm trấn cát tường tức là khắc chế tà ma, xua đuổi hung ác. Dưới đây, Phong thủy Vietaa sẽ giới thiệu cho bạn về sự khởi nguồn của thuật trấn trạch.

Khởi nguồn của thuật trấn trạch

Khởi nguồn của thuật trấn trạch

 

Khởi nguồn của thuật yểm trấn

Nghe nói những thợ thủ công thời xưa rất giỏi thuật yểm thắng. Vì họ có địa vị thấp hèn, thường bị những người chủ vô lương tâm ngược đãi, chèn ép, cắt xén tiền công. Điều đó khiến họ cảm thấy vô cùng phẫn nộ. Liền nhân cơ hội đang làm việc, sử dụng thuật yểm thắng để báo thù. Họ đã chôn những vật chuyên dùng để trấn yểm vào trong nhà.

Khi người chủ ở trong căn nhà đó, vận khí của cả gia đình sẽ trở nên sa sút. Nhẹ thì gia trạch không yên. Có khi còn làm tổn thương hoặc gây chuyện thị phi. Nặng thì mắc những căn bệnh quái ác, gặp tai nạn. Trẻ con thì chết yểu, thậm chí chết người phá sản. Nên đây là một dạng lời nguyền vô cùng độc ác.

Khởi nguồn của thuật trấn trạch

Yểm trấn cát tường

Thuật yểm trấn có thiện có ác. Những đồ vật được dùng trong thuật yểm trấn được gọi là “vật trấn yểm”.

Có rất nhiều cách yểm. Nhưng không phải tất cả đều nhằm mục đích hại người. Trong 27 cách yểm trấn có tới 10 cách giúp cho gia trạch được hưng vượng. Thậm chí có thể thăng quan tiến chức. Nên được gọi là “yểm trấn cát tường”.

Thuật yểm trấn tuy có thể giúp cho gia chủ được thuận buồm xuôi gió, nhưng cũng có thể khiến cho gia trạch bất an. Thuật yểm trấn này được gọi là “yểm trấn chế áp”.

Tham khảo thêm về các khóa học phong thủy tại Vietaa nhé!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch (2)

Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch (2)

Phong Thủy Bát Trạch đã phân chia một cách nghiêm ngặt Dương Trạch thành tám bộ phận. Bao gồm các hướng đông, nam, tây, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc. Xét về lý luận thì tám phương vị này có liên quan đến mệnh quái của con người. Mỗi phương vị lại hợp với một số mệnh quái nhất định và cũng không hợp với một số mệnh quái nhất định.

Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch

Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch

Mỗi hướng trong Bát trạch đều có trạng thái cát hung khác nhau. Tất cả đều căn cứ vào tượng quẻ và Ngũ hành sinh khắc. Mặt khác, trạng thái cát hung của mỗi hướng cũng liên quan đến Long pháp Cửu tinh.

  • Hướng cát Sinh khí là Tham Lang Mộc tinh, thượng cát
  • Hướng cát Diên niên là Vũ Khúc Kim tinh, thượng cát
  • Hướng cát Thiên y là Cự Môn Thổ tinh, trung cát
  • Hướng cát Phục vị là Phụ Bật Mộc tinh, tiểu cát
  • Hướng hung Tuyệt mệnh là Phá Quân Kim tinh, đại hung
  • Hướng hung Ngũ quỷ là Liêm Trinh Hỏa tinh, đại hung
  • Hướng hung Họa hại là Lộc Tồn Thổ tinh, trung hung
  • Hướng hung Lục sát là Văn Khúc Thủy tinh, tiểu hung

Khi phân định được hướng cát hung thì có thể bắt tay kiến tạo nhà cửa. Nhà hoặc cửa ở hướng cát nên cao và rộng. Nhà hoặc cửa ở hướng hung nên thấp.

  • Khi Phục vị ở vào bất kỳ một trạch vị nào đó thuộc Đông tứ trạch, ba trạch vị còn lại đều cát. Còn toàn bộ Tây tứ trạch đều hung.
  • Khi Phục vị ở vào bất kỳ một trạch vị nào đó thuộc Tây tứ trạch, ba trạch vị còn lại đều cát. Còn toàn bộ Đông tứ trạch đều hung.

Qua đó có thể chứng minh được điểm tương tự trong cùng một dạng trạch mệnh và điểm khác biệt giữa những trạch mệnh khác nhau.

Tham khảo thêm bài viết Bát quái và tám hướng tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch

Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch

Phong Thủy Bát Trạch đã phân chia một cách nghiêm ngặt Dương Trạch thành tám bộ phận. Bao gồm các hướng đông, nam, tây, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc. Xét về lý luận thì tám phương vị này có liên quan đến mệnh quái của con người. Mỗi phương vị lại hợp với một số mệnh quái nhất định và cũng không hợp với một số mệnh quái nhất định.

Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch

Nguồn gốc cát hung của Sinh khí Bát trạch

 

Thái cực phân Âm Dương. Trong Dương có Âm có Dương, tức Thái Dương, Thiếu Âm. Trong Âm cũng có Dương có Âm, tức Thái Âm, Thiếu Dương.

  • Trong Thái Dương, Dương Càn Âm Đoài
  • Trong Thiếu Âm, Dương Chấn Âm Ly
  • Trong Thiếu Dương, Dương Khảm, Âm Tốn
  • Trong Thái Âm, Dương Cấn Âm Khôn

Đó chính là nội dung được phản ảnh trong Tiên thiên Bát quái.

  • Càn ứng với 9, tượng trưng cho cha
  • Khôn ứng với 1, tượng trưng cho mẹ
  • Tốn ứng với 2, tượng trưng cho trưởng nữ
  • Khảm ứng với 7, tượng trưng cho thứ nam
  • Ly ứng với 3, tượng trưng cho thứ nữ
  • Cấn ứng với 6, tượng trưng cho thiếu nam
  • Đoài ứng với 4, tượng trưng cho thiếu nữ

Đó chính là nội dung được phản ánh trong Hậu thiên Bát quái. Căn cứ vào Hà đồ, Lạc thư thì 5 thuộc trung cung.

Vì vậy, hợp của Tiên thiên là Sinh khí. Hợp của Hậu thiên là Diên niên. Hợp của số 5 là Thiên y.

Càn và Ly, Đoài và Chấn, Khôn và Khảm, Cấn và Tốn lấy Âm khắc Dương là Tuyệt mệnh.

Càn và Chấn, Tốn và Khôn, Khảm và Cấn, Đoài và Ly lấy Dương khắc Dương, Âm khắc Âm, là Ngũ quỷ.

Càn và Khảm, Cấn và Chấn, Tốn và Đoài, Khôn và Ly thì lục thân tương hình, là Lục sát.

Càn và Tốn, Khảm và Đoài, Cấn và Ly, Khôn và Chấn thì Kim Thủy tương khắc, mà Tý – Dậu – Sửu – Ngọ thì tương phá, là Họa hại.

Tham khảo thêm bài viết Bát quái và tám hướng tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch (2)

Hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch (2)

Hệ thống hai mươi tư cát tinh, hung tinh theo quan niệm phổ biến hiện nay bao gồm: Long Lâu, Ngọc Diệp, Bát Vũ, Đế Tọa, Loan Giá, Thiên Điếu, Phượng Các, Kim Sương, Quỷ Kiếp, Tướng Quân, Công Tào, Thiên Cương, Bảo Điện, Kim Chi, Viêm Liệt, Long Trì, Đế Liễn, Thiên Sát, Bảo Cái, Ngọc Ấn, Kiếp Sát, Hoa Cái, Trực Phù, Địa Sát. Dưới đây, Phong thủy Vietaa sẽ giới thiệu bài ca quyết về hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch.

Hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch

Hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch

La bàn và hai mươi tư Thiên tinh

Do dòng lưu truyền khác nhau nên hai mươi tư Thiên tinh cũng có những hệ thống tên gọi khác nhau. Mỗi dạng la bàn khác nhau cũng có cách sắp xếp khác nhau.

Hai mươi tư Thiên tinh trong “Thôi quan thiên” của Lại Văn Tuấn là: Thiên Đế. Dương Quang. Thiên Đạo. Thiên Trù. Thiên Thị. Thiên Bội. Thiên Uyển. Thiên Mệnh. Thiên Quan. Thiên Cương. Thái Ất. Thiên Bình. Thiên Vi. Thiên Mã. Thiên Trụ. Thiên Thường. Thiên Việt. Thiên Quan. Thiên Hán. Thiếu Vi. Thiên Ất. Thiên Khôi. Thiên Cứu. Thiên Hoàng.

Hai mươi tư Thiên tinh trong Huy bàn gồm: Thiên Phụ. Thiên Lũy. Thiên Hán. Thiên Trù. Thiên Thị. Thiên Bội. Thiên Uyển. Thiên Hành. Thiên Quan. Thiên Cương. Thái Ất. Thiên Bình. Thái Vi. Thiên Mã. Nam Cực. Thiên Thường. Thiên Việt. Thiên Quan. Thiên Hoàng. Thiếu Vi. Thiên Ất. Thiên Khôi. Thiên Cứu. Thiên Hoàng.

Hai mươi tư Thiên tinh trên là bàn của Đài Loan và Hồng Kông sản xuất gồm: Long Lâu, Ngọc Diệp, Bát Vũ, Đế Tọa, Loan Giá, Thiên Điếu, Phượng Các, Kim Sương, Quỷ Kiếp, Tướng Quân, Công Tào, Thiên Cương, Bảo Điện, Kim Chi, Viêm Liệt, Long Trì, Đế Liễn, Thiên Sát, Bảo Cái, Ngọc Ấn, Kiếp Sát, Hoa Cái, Trực Phù, Địa Sát.

Hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch

Hai mươi tư Thiên tinh đường vận

Có một số thầy phong thủy khi sử dụng la bàn thường dùng nguyên vận, Thiên tinh. Còn có một số phương pháp sắp xếp là biến đổi theo vận.

Hai mươi tư sơn phối với Thiên tinh lại có một phương pháp sắp xếp khác. Đó là sắp xếp theo nguyên vận. Từ năm 2004 đến năm 2023 là vận 8 Hạ nguyên. Thiên tinh thay đổi theo nguyên vận.

Ví dụ: Coi Long Lâu là Thiên tinh chủ vận. Đến vận 8 thì Long Lâu sắp ở sơn Cấn.

Tham khảo thêm bài viết Hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch

Hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch

Hệ thống hai mươi tư cát tinh, hung tinh theo quan niệm phổ biến hiện nay bao gồm: Long Lâu, Ngọc Diệp, Bát Vũ, Đế Tọa, Loan Giá, Thiên Điếu, Phượng Các, Kim Sương, Quỷ Kiếp, Tướng Quân, Công Tào, Thiên Cương, Bảo Điện, Kim Chi, Viêm Liệt, Long Trì, Đế Liễn, Thiên Sát, Bảo Cái, Ngọc Ấn, Kiếp Sát, Hoa Cái, Trực Phù, Địa Sát. Dưới đây, Phong thủy Vietaa sẽ giới thiệu bài ca quyết về hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch.

Hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch

Hai tư cát tinh và hung tinh trong Dương trạch

 

Hai mươi tư Thiên tinh

Theo quan niệm của người Trung Quốc cổ đại, sự vận hành của mặt trời, mặt trăng, các vì sao đều không chỉ là những hiện tượng thiên nhiên. Cả sự xuất hiện của mây, gió, sấm, chớp cũng vậy. Chúng có liên quan mật thiết đến các sự vật trên trần gian, đạo trời. Và con người có mối liên hệ qua lại hết sức khăng khít.

Người Trung Quốc có lịch sử quan sát thiên tượng rất lâu đời. Và cũng bảo tồn được một khối lượng khổng lồ những tài liệu thiên văn học. Thể hiện sự quan tâm của con người với đạo trời.

Các nhà phong thủy thời cổ đại đã chọn ra hai mươi tư vì sao trong số các thiên thể để kết hợp với hai mươi tư sơn. Tạo nên Thiên tinh bàn gồm hai mươi tư ngôi. Thiên tinh có hung có cát. Hai mươi tư sơn cũng có hung có cát. Tương truyền, hai mươi tư Thiên tinh là do Lại Văn Tuấn đời Tống sáng lập. Tác phẩm “Thôi quan thiên” của ông chính là xuất phát từ hai mươi tư Thiên tinh để bàn luận về trạng thái cát hung của long, huyệt, sa và thủy.

Tham khảo thêm bài viết Hai mươi tư sơn hướng có thể phán Âm Dương, luận cát hung tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (4)

Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (4)

Theo phong thủy Huyền Không, Cửu tinh có liên quan đến tài vận của mỗi người. Nếu hiểu rõ về mối quan hệ giữa Cửu tinh và tài vận thì có thể hóa giải thất vận của mỗi người. Giúp tài vận ngày càng thêm thịnh vượng.

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

 

Vận dụng Cửu tinh

Thất Xích phi tinh

Thất Xích Phá Quân, Ngũ hành thuộc Kim. Màu sắc là màu trắng, màu vàng kim, màu bạc. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Đoài.

Khi đắc vận thì đinh tài đều vượng. Giỏi về ca hát, diễn thuyết, bói toán.

Khi thất vận thì chủ về miệng lưỡi thị phi, có người chết trận hoặc bị ngục tù. Mắc bệnh về đường hô hấp, miệng lưỡi và phổi.

Bát Bạch phi tinh

Bát Bạch Tả Phụ, Ngũ hành thuộc Thổ. Màu sắc là màu trắng, màu vàng nhạt. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Cấn.

Khi đắc vận là Thái Bạch tài tinh, là Tài tinh hạng một. Sao này mang lại công danh phú quý. Thành công về sự nghiệp, phát về điền trạch. Là sao may mắn nhất trong Cửu tinh.

Khi thất vận thì mất mát điền sản, bị tổn thương nhẹ. Mắc bệnh dịch, tay chân và sống lưng bị tổn thương. Ham mê cờ bạc mà lụn bại gia tài.

Cửu Tử phi tinh

Cửu Tử Hữu Bất, Ngũ hành thuộc Hỏa. Màu sắc là màu đỏ, màu tím. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Ly.

Khi đắc vận sao này là sao may mắn và sao ái tình. Mang lại mối nhân duyên tốt đẹp và số đào hoa. Gặp nhiều may mắn, vượng đinh vượng tài. Sinh thêm con, phát về điền sản, sự nghiệp hưng thịnh.

Khi thất vận thì chủ về số đào hoa, nôn ra máu. Phá tài tổn đinh cực kỳ nhanh chóng. Gặp hỏa hoạn, mắc bệnh tim, băng huyết.

Tham khảo thêm bài viết Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (3) tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (3)

Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (3)

Theo phong thủy Huyền Không, Cửu tinh có liên quan đến tài vận của mỗi người. Nếu hiểu rõ về mối quan hệ giữa Cửu tinh và tài vận thì có thể hóa giải thất vận của mỗi người. Giúp tài vận ngày càng thêm thịnh vượng.

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

 

Vận dụng Cửu tinh

Tứ Lục phi tinh

Tứ Lục Văn Khúc, Ngũ hành thuộc Mộc. Màu sắc là màu xanh biếc. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Tốn.

Khi đắc vận là sao Văn Xương. Giỏi về văn hóa và nghệ thuật, khoa cử đỗ đạt, văn chương lừng danh. Sống nhờ vợ hoặc lấy được người chồng tốt.

Khi thất vận thì chủ về số đào hoa. Vì đam mê tửu sắc mà gặp họa. Bị hen suyễn, mắc bệnh ở gan hoặc từ thắt lưng trở xuống. Ở thời cổ là điềm trong nhà dễ có người treo cổ tự tử. Thời hiện đại là điềm uống thuốc độc tự tử.

Ngũ Hoàng phi tinh

Ngũ Hoàng Liêm Trinh, Ngũ hành thuộc Thổ. Màu sắc là màu vàng. Phương vị hậu thiên Bát quái thuộc trung cung.

Khi đắc vận thì uy nghiêm lừng lẫy như hoàng đế, thống lĩnh bốn phương. Bởi vậy long bào của hoàng đế ngày xưa đều có màu vàng.

Khi thất vận sẽ trở thành Ngũ Hoàng sát, là Thổ sát cực hung, chủ về chết chóc. Nếu nghiêm trọng có thể chết đến năm người hoặc tai họa có liên quan đến số 5. Nếu gặp các cát tinh khác có thể hóa giải ít nhiều. Nếu lại gặp các hung tinh như Nhị Hắc lại càng thêm hại. Chắc chắn sẽ mắc bệnh nan y.

Lục Bạch phi tinh

Lục Bạch Vũ Khúc, Ngũ hành thuộc Kim. Màu sắc là màu trắng. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Càn. Khi đắc vận là Tài tinh. Kết hợp với Nhất Bạch và Bát Bạch thành Tam đại tài tinh.

Khi sinh vượng đắc vận thì vượng nhân đinh, quyền uy. Làm võ tướng thì công trạng hiển hách.

Khi thất vận là sao Thất tài (mất mát, thất thoát tiền của). Vì ham mê cờ bạc mà khuynh gia bại sản, chết trong binh đao. Khiến người trong nhà phải sống cô quả, mắc bệnh về phổi.

Tham khảo thêm bài viết Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (2) tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (2)

Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh (2)

Theo phong thủy Huyền Không, Cửu tinh có liên quan đến tài vận của mỗi người. Nếu hiểu rõ về mối quan hệ giữa Cửu tinh và tài vận thì có thể hóa giải thất vận của mỗi người. Giúp tài vận ngày càng thêm thịnh vượng.

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

 

Vận dụng Cửu tinh

Nhất Bạch phi tinh

Nhất Bạch Tham Lang, Ngũ hành thuộc Thủy. Màu sắc là màu trắng, màu xanh lam, màu xám. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Khảm.

Khi đắc vận là sao Tài quan, chủ về danh tiếng và chức tước, văn võ song toàn. Thời trẻ khoa cử đỗ đạt, tiếng tăm lừng lẫy. Sao này khi đắc vận thì chủ về người nam thông minh. Sao này cũng gọi là Tài tinh (sao vượng về của cải), kết hợp với Lục Bạch và Bát Bạch thành Tam đại Tài tinh (ba tài tinh lớn).

Khi thất vận chủ về số đào hoa. Vì đam mê tửu sắc mà phá gia bại sản, mắc bệnh về tai hoặc thận. Thậm chí là bệnh hoa liễu, bệnh AIDS. Nữ thì chủ về bệnh ung thư tử cung hoặc ung thư tuyến vú. Nặng thì vợ chồng ly dị, sống cô độc hoặc phải sống tha hương cầu thực.

Nhị Hắc phi tinh

Nhị Hắc Cự Môn, Ngũ hành thuộc Thổ. Màu sắc là màu vàng, màu nâu. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Khôn.

Khi đắc vận thì giàu có, điền sản phát mạnh, vượng về nhân khẩu, lại phát về binh nghiệp. Là nữ thì đoạt quyền chồng, lắm mưu nhiều kế, sống tiết kiệm, cũng có thể làm bác sỹ.

Khi thất vận sẽ trở thành sao Linh Giới hay Bệnh Phù, sẽ gặp phải những điều rủi ro nhất. Như chết chóc, mắc bệnh nan y, phá sản tự tử, vợ đoạt quyền chồng. Mức độ hung hại tương đương với Ngũ Hoàng.

Tam Bích phi tinh

Tam Bích Lộc Tồn, Ngũ hành thuộc Mộc. Màu sắc là màu xanh. Phương vị Hậu thiên Bát quái thuộc cung Chấn.

Khi đắc vận thì tài lộc đầy đủ, chấn hưng gia tộc, cơ nghiệp vững vàng, con cái dòng trưởng rất hưng thịnh.

Khi thất vận thì gặp kiện tụng thị phi, tiểu nhân hãm hại, gặp trộm cướp, phá sản, bị hình ngục, kiện tụng triền miên. Dễ mắc bệnh về máu mủ, dễ mắc bệnh nan y tại tay, chân, tóc, gan. Sao này hiếu dũng thích tranh đua, dễ gặp điều tiếng, phỉ báng.

Tham khảo thêm bài viết Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments
Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh

Dạy phong thủy: Huyền không Cửu tinh

Theo phong thủy Huyền Không, Cửu tinh có liên quan đến tài vận của mỗi người. Nếu hiểu rõ về mối quan hệ giữa Cửu tinh và tài vận thì có thể hóa giải thất vận của mỗi người. Giúp tài vận ngày càng thêm thịnh vượng.

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

 

Nguồn gốc của Cửu tinh

Khái niệm Cửu tinh khởi nguồn từ Thiên văn học của Trung quốc cổ đại. Phía bắc có chòm Bắc Đẩu có bảy ngôi sao. Trong đó các ngôi sao lần lượt là: Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân. Bảy ngôi sao này được gọi chung là Bắc Đẩu thất tinh.

Trên thực tế, ở hai bên Của Vũ Khúc và Phá Quân còn có hai ngôi sao mà mọi người ít khi chú ý đến. Đó là tả Phụ và Hữu Bật. Hai ngôi sao này cộng với bảy ngôi sao trong chòm Bắc Đẩu hợp thành Cửu tinh.

Bắc Đẩu thất tinh chuyển động thuận chiều kim đồng hồ quanh sao Bắc Cực. Sao Bắc Đẩu nằm ở hướng chính bắc của trái đất. Số của Lạc thư Cửu cung và phương vị của Bát quái được xác định theo sự chuyển động của chòm Bắc Đẩu quanh sao Bắc Cực.

Tìm hiểu về Huyền không Cửu tinh

Vận dụng Cửu tinh

Trong Cửu tinh, Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch là sao thượng cát. Tứ Lục và Cửu Tử là nửa cát nửa hung. Nhị Hắc, Tam Bích, Ngũ Hoàng, Thất Xích đều là hung tinh.

Trạng thái cát hung của các sao đều căn cứ theo đại vận. Đắc vận thì cát, thất vận thì hung.

Việc vận dụng Cửu tinh trong mỗi vận cần căn cứ theo nguyên tắc suy vong của Phi tinh. Sinh vượng đều có thể ứng dụng. Quy tắc phán đoán trạng thái vượng suy trong Tam nguyên cửu vận chính là “đương vận sẽ vượng, tương lai sẽ sinh, đã qua sẽ suy, quá lâu sẽ chết”.

Tham khảo thêm bài viết Cửu tinh: Chiêu tài hay phá tài? tại đây!

Posted by Minh Loan in Bài viết, 0 comments